<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Đền Chùa - Đền Chùa Việt Nam - Chùa Việt Nam - Chùa Đẹp Nhất Việt Nam &#187; thien phat giao</title>
	<atom:link href="http://denchua.nhadatso.com/tag/thien-phat-giao/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://denchua.nhadatso.com</link>
	<description>denchua.nhadatso.com</description>
	<lastBuildDate>Sun, 21 Jun 2015 21:07:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
		<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
		<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	
	<item>
		<title>Tìm thấy chính bản thân mình nhờ đạo Phật</title>
		<link>http://denchua.nhadatso.com/tim-thay-chinh-ban-than-minh-nho-dao-phat.html</link>
		<comments>http://denchua.nhadatso.com/tim-thay-chinh-ban-than-minh-nho-dao-phat.html#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 21 Jun 2015 08:36:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phật Học]]></category>
		<category><![CDATA[hoc phat]]></category>
		<category><![CDATA[phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[phat hoc]]></category>
		<category><![CDATA[phat phap]]></category>
		<category><![CDATA[thien phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[tim thay chinh minh qua dao phat]]></category>
		<category><![CDATA[tin tuc phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[vuon hoa phat giao]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://denchua.nhadatso.com/?p=279</guid>
		<description><![CDATA[Hãy tự hỏi “tại sao tôi làm điều này? Bằng cách nào tôi thực hiện nó? Nguyên nhân gì?”. Bạn sẽ nhận thấy điều này trở nên một kinh nghiệm tuyệt vời. Tâm lý học Phật giáo nêu ra sáu vọng tưởng cơ bản làm hư hỏng tâm con người, quấy rối sự an vui]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h3 class="tt-detail">Hãy tự hỏi “tại sao tôi làm điều này? Bằng cách nào tôi thực hiện nó? Nguyên nhân gì?”. Bạn sẽ nhận thấy điều này trở nên một kinh nghiệm tuyệt vời.</h3>
<div class="f-detail">
<div style="text-align: center;"><a href="/images/post/2015/06/21/20//tim-lai-chinh-minh.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-289" src="/images/post/2015/06/21/20//tim-lai-chinh-minh.jpg" alt="tim-lai-chinh-minh" width="613" height="434" /></a></div>
<div style="text-align: justify;">
Tâm lý học Phật giáo nêu ra sáu vọng tưởng cơ bản làm hư hỏng tâm con người, quấy rối sự an vui của tâm, khiến tâm trở nên vọng động, đó là: vô minh, chấp thủ, tức giận, kiêu căng, nghi ngờ và quan điểm lệch lạc. Sáu vọng tưởng này là thái độ tâm thức, chứ không phải thuộc các hiện tượng bên ngoài.</p>
<p>Phật giáo nhấn mạnh rằng để khắc phục những vọng tưởng này, nguồn gốc của tất cả khổ đau, thì niềm tin và lòng tin không giúp được gì nhiều, mà quan trọng là bạn phải hiểu rõ bản chất của chúng.</p>
<p>Nghiên cứu Phật giáo có nghĩa là chúng ta đang nghiên cứu chính mình, bản chất của tâm chúng ta. Thay vì chú trọng vào đấng tối cao, đạo Phật nhấn mạnh các vấn đề thực tiển hơn, chẳng hạn như cách để điều chỉnh cuộc sống, cách để hợp nhất tâm và cách để giữ cho cuộc sống hằng ngày của chúng ta luôn luôn an vui và lành mạnh. Nói cách khác, đạo Phật luôn luôn chú trọng đến trí tuệ nhận thức thực nghiệm hơn là một số quan điểm mang tính giáo điều.</p>
<p>Trên thực tế, chúng ta không bao giờ xem đạo Phật là một tôn giáo theo ý nghĩa thông thường của thuật ngữ này. Theo quan điểm của các Lama, Phật giáo tồn tại trong lãnh vực của triết học, khoa học và tâm lý học hơn. Theo bản năng, tâm của con luôn tìm kiếm hạnh phúc. Dù ở phương Đông hay phương Tây cũng không có khác biệt; mọi người đang hướng đến một điều tương tự.</p>
<p><em>Tuy nhiên, nếu sự tìm kiếm hạnh phúc của bạn khiến bạn chấp thủ với cảm xúc trong thế giới cảm giác, thì có thể rất nguy hiểm. Bạn không có sự chế ngự.</em></p>
<p>Bây giờ, đừng nghĩ rằng sự chế ngự là việc  của phương Đông, là việc của Phật giáo. Tất cả chúng ta đều cần sự chế ngự, đặc biệt là những người bị cuốn hút vào đời sống vật chất. Trên phương diện tâm lý và cảm xúc, chúng ta quá lệ thuộc vào những đối tượng của chấp thủ. Theo quan điểm của Phật giáo, đó chính là tâm bệnh hoạn; người mắc bệnh tâm thần.</p>
<p>Trên thực tế, bạn đã biết rằng  chỉ phát triển khoa học công nghệ ngoại tại thì không thể làm thỏa mãn tham vọng thuộc chấp thủ của mình hoặc giải quyết các vấn đề cảm xúc khác của bạn. Tuy nhiên, những gì Phật giáo cho bạn thấy là bản chất đặc thù của tiềm năng con người, khả năng tiếp thu của tâm nhân loại. Khi nghiên cứu cứu Phật giáo, bạn biết rõ mình là gì và cách để phát triển xa hơn; thay vì đặt nặng vào một số hệ thống tín ngưỡng siêu nhiên, các phương pháp của Phật giáo dạy bạn phát huy hiểu biết sâu sắc về chính mình và tất cả các hiện tượng khác.</p>
<p>Tuy nhiên, dù là người sùng đạo hay theo chủ nghĩa duy vật, tín đồ hoặc người vô thần, thì điều quan trọng là bạn phải biết cách tâm mình hoạt động. Nếu không, bạn sẽ loanh quanh với suy nghỉ mình đang mạnh khỏe, trong khi trên thực tế, có nguồn gốc sâu xa của các cảm xúc đau khổ, nguyên nhân đích thực của tất cả các căn bệnh tâm lý, đang lớn dần trong bạn.</p>
<p>Do đó, tất cả những gì mất mát là một số điều nhỏ nhặt ngoại tại đang biến đổi, một điều gì đó vô nghĩa đang trở nên sai lầm, và trong chốc lát, bạn hoàn toàn thất vọng. Với tôi, điều đó cho thấy bạn mắc bệnh tâm. Tại sao? Bởi vì bạn bị thế giới tri giác ám ảnh, bị chấp thủ che lấp, nằm dưới sự kiểm soát nguyên nhân cơ bản của các vấn đề, nên không biết bản chất của tâm mình.</p>
<p>Không sao cả nếu bạn nổ lực bác bỏ những gì tôi đang nói bằng cách bảo rằng bạn không tin điều đó. Đây không phải là vấn đề của niềm tin. Dù bạn có khăng khăng bảo rằng <em>“tôi không tin mình có lỗ mũi ”</em>, thì mũi của bạn vẫn tồn tại ở đó, nằm ngay giữa hai con mắt của bạn. Mũi của bạn luôn tồn tại ở đó, dù bạn có tin hay không.</p>
<p>Tôi đã từng gặp nhiều người tuyên bố kiêu ngạo rằng <em>“tôi không phải một tín đồ”</em>. Họ quá tự hào về sự thiếu hụt chuyên môn của niềm tin vào bất cứ điều gì. Bạn hãy quán sát kỉ; điều này thực sự trở nên quan trọng để biết. Trong thế giới ngày nay, có quá nhiều mâu thuẫn. Người theo khoa học duy vật cho rằng “<em>tôi không tin”</em>; những người theo tôn giáo nói “<em>tôi tin tưởng”</em>.</p>
<p>Tuy nhiên, chẳng sao cả về những gì bạn nghỉ, bạn vẫn cần phải biết rõ bản chất đặc trưng của tâm mình. Nếu không biết, thì cũng chẳng sao cả dù bạn có nói về những khuyết điểm của chấp thủ bao nhiêu đi nữa, bạn không có khái niệm về chấp thủ thực sự là gì hoặc cách để chế ngự nó. Ngôn từ là rất dể. Những gì thực sự khó khăn là phải hiểu rõ bản chất đích xác của chấp thủ.</p>
<p>Ví dụ, ban đầu, khi con người chế tạo xe hơi và máy bay, mục đích của họ là có thể thực hiện mọi công việc nhanh chóng hơn để họ có nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn. Tuy nhiên, những gì đã xảy ra cho thấy con người lại bận rộn hơn bao giờ hết. Hãy nhìn vào cuộc sống hằng ngày của bạn. Bởi vì chấp thủ, bạn bị cuốn hút vào thế giới cảm giác cụ thể của sự tạo tác chính mình, phủ nhận không gian hoặc thời gian để nhận thấy thực tại của tâm mình.</p>
<p>Theo tôi, đó là định nghĩa của một đời sống khó khăn. Bạn không thể tìm thấy được sự thỏa mãn hoặc  an vui. Nên biết, trên thực tế, hạnh phúc và an vui thực sự đều xuất phát từ tâm, chứ không bao giờ xuất phát từ các hiện tượng bên ngoài. Tuy nhiên, một số người thông minh và hoài nghi hiểu rõ ở mức độ các đối tượng vật chất không bảo đảm được một cuộc sống thú vị đáng giá và đang nổ lực nhận thấy nếu thực sự có một điều gì đó khác có thể biểu hiện sự thỏa mãn đích xác.</p>
<p>Khi nói về khổ đau, đức Phật vốn không đơn thuần chỉ cho các vấn đề bên ngoài như bệnh tật và thương tổn, mà Ngài đề cập đến thực tế bản chất bất mãn của tâm là khổ đau. Chẳng sao cả nếu có bao nhiêu điều bạn nhận được, nó không bao giờ làm thỏa mãn tham vọng của bạn tốt hơn hoặc nhiều hơn. Tham vọng không dứt này là khổ đau; bản chất của nó là tâm trạng thất bại mang tính cảm xúc.</p>
<p>Tâm lý học Phật giáo nêu ra sáu vọng tưởng cơ bản làm hư hỏng tâm con người, quấy rối sự an vui của tâm, khiến tâm trở nên vọng động, đó là: vô minh, chấp thủ, tức giận, kiêu căng, nghi ngờ và quan điểm lệch lạc. Sáu vọng tưởng này là thái độ tâm thức, chứ không phải thuộc các hiện tượng bên ngoài.</p>
<p>Phật giáo nhấn mạnh rằng để khắc phục những vọng tưởng này, nguồn gốc của tất cả khổ đau, thì niềm tin và lòng tin không giúp được gì nhiều, mà quan trọng là bạn phải hiểu rõ bản chất của chúng. Nếu không quán chiếu tâm mình với trí tuệ nhận thức nội tại, bạn sẽ không bao giờ thấy được những gì đang tồn tại ở đó. Nếu không quán chiếu, thì dù có nói về tâm và các cảm xúc của mình bao nhiêu đi nữa, bạn sẽ không bao giờ thực sự hiểu được rằng  cảm xúc cơ bản của bạn là vị kỉ quá mức và đây là những gì khiến bạn trở nên rối rắm.</p>
<p>Bây giờ, để khắc phục bản ngã, không  có nghĩa là bạn phải từ bỏ tất cả những sở hữu của mình. Hãy giữ lấy những sở hữu của bạn; chúng không phải những gì khiến cuộc sống của bạn trở nên khó khăn. Bạn quá bận rộn bởi vì bạn đang vướng vào những sở hữu của mình với chấp thủ; bản ngã và chấp thủ làm ô nhiễm tâm bạn; khiến tâm trở nên mờ mịt, vô minh và vọng động, khiến cho ánh sáng của trí tuệ bị che khuất. Giải pháp cho vấn đề này là thiền.</p>
<p>Thiền không đơn thuần chỉ là sự phát triển của việc tập trung vào một đối tượng duy nhất, ngồi yên trong một gốc kín nào đó mà không làm việc gì hết. Thiền là trạng thái tỉnh giác của tâm, là sự dối lập của vô minh; thiền là trí tuệ. Bạn nên duy trì sự tỉnh thức ở mỗi giây phút trong cuộc sống hằng ngày của bạn, nhận thức hoàn toàn về những gì bạn đang làm và tại sao cũng như cách bạn đang thực hiện nó.</p>
<p>Chúng ta thực hiện tất cả mọi thứ hầu như trong trong vô thức. Chúng ta ăn, uống và nói chuyện trong vô thức. Mặc dù có ý định để trở nên tỉnh thức, nhưng chúng ta hoàn toàn không nhận biết về những khổ đau đang xung đột trong tâm mình, ảnh hưởng đến mọi thứ chúng ta đang thực hiện. Hãy quan sát chính bạn; hãy thử nghiệm. Tôi không phán quyết hoặc đẩy bạn xuống vực thẳm. Đây là cách mà Phật giáo thể hiện. Nó đưa ra những ý tưởng để bạn có thể quán sát theo kinh nghiệm của mình nhằm thấy rõ liệu chúng có thực hay không. Nó rất thực tế; tôi không nói về một điều gì đó xa vời thực tế ở trên mây trên mưa. Ngược lại, đó là một điều thực sự rất đơn giản.</p>
<p>Nếu không biết bản chất đặc thù của chấp thủ và các đối tượng của nó, thì làm sao bạn có thể phát khởi tình thương đối với bạn bè, cha mẹ hoặc đất nước của mình? Theo quan điểm của Phật giáo, điều đó không thể xảy ra. Khi gây tổn hại cho cha mẹ hoặc bạn bè của mình, thì tâm vô ý thức của bạn đang hoạt động. Khi trở nên tức giận, thì người tức giận ấy hoàn toàn quên lãng những gì đang xảy ra trong tâm mình. Vô ý thức khiến chúng ta gây tổn hại và thiếu tôn trọng những chúng sanh khác; vô ý thức trong hành vi và trạng thái tâm khiến chúng ta đánh mất nhân tính. Đó là tất cả. Thật đơn giản phải không?</p>
<p>Dạo này, nhiều người nghiên cứu và tập luyện để trở thành những nhà tâm lý học. Theo quan điểm của đức Phật thì mỗi người nên trở thành một nhà tâm lý học. Mỗi người trong chúng ta nên biết rõ tâm của chính mình; bạn nên trở thành nhà tâm lý của chính bạn. Điều này chắc chắn có thể xảy ra; mỗi con người đều có khả năng hiểu rõ tâm mình. Khi hiểu rõ tâm mình, bạn có thể điều phục nó một cách tự nhiên.</p>
<p>Đừng nghỉ rằng sự chế ngự là một vài cuộc du ngoạn đến Hy Mã Lạp Sơn hoặc trở nên dễ dàng hơn cho những người không có nhiều sở hữu. Đó không phải là sự thực tất yếu. Kế tiếp, bạn có cảm xúc buồn bã, hãy quán chiếu chính mình. Thay vì bận rộn thực một điều gì đó gây xao lãng tự thân, bạn hãy thư giãn và cố gắng trở nên tỉnh thức về những gì mình đang làm.</p>
<p>Hãy tự hỏi <em>“tại sao tôi làm điều này? Bằng cách nào tôi thực hiện nó? Nguyên nhân gì?”</em>. Bạn sẽ nhận thấy điều này trở nên một kinh nghiệm tuyệt vời. Vấn đề chủ yếu của bạn là thiếu trí tuệ nhận thức sâu sắc, thiếu tỉnh giác hoặc hiểu biết. Do đó, bạn sẽ khám phá ra rằng thông qua hiểu biết, bạn có thể dể dàng giải quyết các vấn đề của mình.
</div>
<div style="text-align: right;"><span style="color: #008000;"><span style="font-size: 12px;">Lama Yeshe<br />
Minh Chánh chuyển ngữ</span></span></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://denchua.nhadatso.com/tim-thay-chinh-ban-than-minh-nho-dao-phat.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phật giáo và bốn món tâm vô lượng &#8211; Từ Bi Hỷ Xả</title>
		<link>http://denchua.nhadatso.com/phat-giao-va-bon-mon-tam-vo-luong-tu-bi-hy-xa.html</link>
		<comments>http://denchua.nhadatso.com/phat-giao-va-bon-mon-tam-vo-luong-tu-bi-hy-xa.html#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 21 Jun 2015 08:36:14 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phật Học]]></category>
		<category><![CDATA[bon mon tam vo luong]]></category>
		<category><![CDATA[hoc phat]]></category>
		<category><![CDATA[phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[phat hoc]]></category>
		<category><![CDATA[phat phap]]></category>
		<category><![CDATA[thien phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[tin tuc phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[vuon hoa phat giao]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://denchua.nhadatso.com/?p=280</guid>
		<description><![CDATA[Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng &#8220;từ bi hỷ xả&#8221;. Nhưng chính vì &#8220;quen&#8221; quá mà chúng ta không để ý phân tách ý nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho nhau, thiếu một không được.]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h3 class="tt-detail">Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng &#8220;từ bi hỷ xả&#8221;. Nhưng chính vì &#8220;quen&#8221; quá mà chúng ta không để ý phân tách ý nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho nhau, thiếu một không được.</h3>
<div class="f-detail">
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: center;"><a href="/images/post/2015/06/21/20//bon-mon-vo-luong.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-290" src="/images/post/2015/06/21/20//bon-mon-vo-luong.jpg" alt="bon mon vo luong" width="640" height="434" /></a></div>
<div style="text-align: justify;">Ðứng về phương diện tuyệt đối, hay chơn như môn, thì tâm của chúng sinh hay tâm của Phật cũng vẫn là một, không có rộng hẹp, thấp cao, sai khác, ngăn cách.Nhưng đứng về phương diện tương đối hay sinh diệt môn, thì tâm có muôn hình vạn trạng, tùy theo chủng tánh của chúng sinh mà có cao thấp, rộng hẹp không đồng. Hễ nghĩ đến tham, sân, si, mạn v.v&#8230; thì tâm trở thành nhỏ hẹp, lớn bé, ngàn sai, muôn khác,cũng như cùng một thứ bột mà do người thợ làm bánh, khéo hay vụng mà có bánh ngon, bánh dở, bánh tốt, bánh xấu, bánh lạt, bánh mặn v.v&#8230;</p>
<p>Cho nên Tôn cảnh Lục có chép: <em>&#8221; Tâm tạo chư Phật, tâm tạo chúng sinh, tâm tạo thiên đường, tâm tạo địa ngục. Tâm vọng động thì ngàn sự sai biệt tranh khởi, tâm bình thì thế giới thản nhiên, tâm phàm thì ba món độc trói buộc, tâm thánh thì sáu món thần thông tự tại, tâm không thì nhứt đạo thanh tịnh, tâm hữu thì vạn cảnh tung hoành. Tự mình đạp mây mà uống nước cam lồ, chẳng có ai cho mình. Nằm trong lửa hừng mà uống máu mủ cũng tự mình gây nê, không phải trời sanh ra, cũng không phải do đất mà có &#8220;. </em></p>
<p>Xem thế thì cũng đủ biết tâm là động lực chính để làm cho ta sướng hay khổ, vui hay buồn, trầm luân hay giải thoát. Vậy muốn thoát khỏi khổ sanh tử luân hồi, muốn được quả vị thánh nhân, Bồ Tát, chúng ta cần trau dồi cho được một tâm vô cùng rộng lớn, một vô lượng tâm.</p>
<p><span style="color: #008000;">I. Ðịnh nghĩa </span></p>
<p><em>Vô lượng là gì? </em></p>
<p>Vô lượng nghĩa là nhiều, rộng lớn, không thể lường tính được. Tâm vô lượng là tâm vô cùng rộng lớn thoát ra khỏi sự ràng buộc của các thứ phiền não đê hèn của phàm phu, phá vỡ được các thứ quan niệm chấp trước hẹp hòi của Nhị thừa, là tâm có một vùng thương yêu rộng lớn có thể bao trùm đến vô lượng chúng sinh, và tìm phương cứu cho tất cả.</p>
<p>Vô lượng tâm cũng có nghĩa là <em>&#8220;Ðẳng tâm&#8221;</em>, cái tâm bình đẳng, phổ biến; bình đẳng, vì tâm này chỉ tự nhiên, không phân biệt so đo thấp cao, hơn kém; phổ biến, bởi nó trang trải mọi nơi chẳng khu biệt, giới hạn. Và dĩ nhiên, nhân nào quả nấy: do thi hành bình đẳng, phổ lợi cho vô lượng chúng sinh, nên chi tâm này có công năng dẫn sinh vô lượng phước đức, làm cho sự kiện căn bản để cảm thành vô lượng quả báo tốt đẹp, ấy là quả vị Bồ<br />
tát và Phật đà.</p>
<p>Hơn nữa, tâm này không những làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh, dẫn sinh vô lượng phước đức, và tạo thành vô lượng quả vị tốt đẹp trong một thế giới và trong một đời, mà còn lan rộng ra đến vô lượng thế giới trong vô lượng kiếp sau này, và tạo thành vô lượng chư Phật. Tóm lại, chữ vô lượng ở đây hàm nhiều nghĩa, vô lượng nhân lành, vô lượng quả đẹp, vô lượng chúng sinh, vô lượng thế giới, vô lượng đời kiếp, vô lượng chư Phật và Bồ Tát.</p>
<p><span style="color: #008000;">II. Thành phần và hành tướng của bốn món tâm vô lượng</span></p>
<p><em>Tâm vô lượng gồm có bốn phần là: bi vô lượng, từ vô lượng, hỷ vô lượng và xả vô lượng.</em></p>
<p><em>1. Bi vô lượng. </em></p>
<p>Bi là lòng thường xót rộng lớn trước những nỗi đau khổ của chúng sinh và quyết tâm làm cho dứt trừ những đau khổ ấy. Nhưng chúng ta đã học trong khóa thứ ba nói về Tứ đế, cái khổ của chúng sinh thật là mênh mông, rộng lớn không thể nói hết. Nó bao trùm cả nhân lẫn quả, cả thời gian lẫn không gian, cả phàm lẫn thánh, thật đúng là vô lượng khổ.</p>
<p>Khổ nằm trong nhân. Trong các kinh điển thường có câu: <em>&#8220;Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả&#8221;</em>. Chúng sinh vì không sáng suốt cho nên chỉ khi nào quả khổ hiện ra mới lo sợ, chứ trong khi đang gây nhân thì lại không nhận thấy, mà vẫn cứ thản nhiên như không. Họ đang sống trong cảnh khổ mà họ không biết, nhiều khi lại là cho vui.</p>
<p>Họ hoan hô tán thán và khuyến khích nhau gây khổ mà cứ tưởng là vui, như những đứa trẻ quẹt diêm quăng lên mái nhà lá, rồi vỗ tay reo mừng với nhau. Vì thiếu sáng suốt cho nên đôi khi họ gây khổ để cứu khổ, chẳng khác gì làm cho đỡ khát bằng cách uống nước mặn.</p>
<p>Khổ nằm trong quả. Ðã gây nhân xấu, thì tất phải chịu quả khổ, đó là lẽ tất nhiên. Có ai trồng khoai mà được đậu bao giờ? Thế mà người đời ít ai chịu công nhận như thế. Người ta oán trời trách đất, rên khóc thảm thiết, làm cho cõi đời đã đen tối lại càng đen tối thêm, cuộc sống đã khổ sở lại càng khổ sở thêm.</p>
<p>Khổ sở bao trùm cả thời gian. Từ vô thỉ đến nay, cái khổ chưa bao giờ dứt, mà cứ chồng thêm lên mãi. Nó gây nhân rồi lại kết quả, kết quả rồi lại gây nhân, cứ thế tiếp tục mãi trong một vòng luẩn quẩn, như bánh xe lăn tròn trên đường thiên lý, không bao giờ dừng nghỉ.</p>
<p>Khổ bao trùm cả không gian. Cái khổ không có phương sở và quốc độ; ở đâu có vô minh thì ở đó có khổ! Mà vô minh thì như một tấm màn vô tận, bao trùm không chỉ một thế giới khác nữa. Khoảng không gian mênh mông vô tận như thế nào, thì nỗi khổ đau cũng mênh mông vô tận như thế ấy.</p>
<p>Khổ chi phối cả phàm lẫn thánh. Chúng sinh ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đã đành là khổ vô cùng, loài người vì say đắm dục lạc, và tham sân si chi phối, nên cũng quay cuồng lặn hụp trong biển khổ; còn chư thiên mặc dù không khổ như người, nhưng cũng không tránh được cái khổ vì ngũ suy tướng hiện.</p>
<p>Cho đến các hàng thánh như Thanh Văn, Duyên giác, vì còn mê pháp, trụ trước Niết Bàn, nên cũng không tránh khỏi nỗi khổ biến dịch sanh tử. Xem thế đủ biết nõi khổ thật là lớn lao vô lượng. Có được một lòng thương xót lớn lao vô lượng cân xứng với nỗi đau khổ vô lượng và có một chi nguyện cứu độ tất cả thoát khỏi nỗi đau khổ vô lượng, ấy là tâm Bi vô lượng.</p>
<p>Các vị Bồ Tát nhờ có lòng đại bi nên đã phát tâm bồ đề rộng lớn, thệ nguyện độ khắp tất cả. Các Ngài nhận thấy mình có sứ mạng vào trong sanh tử để hóa độ chúng sinh, nên không chấp trệ ở Niết Bàn. Sứ mạng chính của các Ngài là gần gũi chúng sanh để:</p>
<p><em>Làm cho chúng sanh nhận được mặt thật của cõi đời, rõ thế nào là tà là chánh, là khổ là vui. </em></p>
<p><em>Làm cho chúng sanh nhận rõ được thân phận của mình mà thôi làm các điều ác, chừa các điều tội lỗi.</em></p>
<p>Xem như thế đủ biết lòng đại bi chính là động lực chánh để đi đến quả vi Bồ tát và Phật. Trong đại hội Hoa Nghiêm đức Bồ tát Phổ Hiền cũng tự nhận và nói như thế này: <em>&#8220;Nhơn vì chúng sanh mà khởi lòng đại bi. Nhơn lòng đại bi mà phát tâm bồ đề. Nhơn phát tâm bồ đề tiến thành ngôi chánh giác&#8221;. </em></p>
<p>Câu nói của Ngài Phổ Hiền đã rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa. Phật đã dạy: <em>&#8220;Hạt giống Bồ đề, không thể gieo trên hư không, chỉ trồng trên đất chúng sinh mà thôi&#8221;</em>. Vậy, chúng ta là Phật tử, muốn tu bồ tát hạnh, tất phải mở rộng lòng Bi, thương xót tất cả, không phân chia nhân, ngã, bỉ, thử, và phải phát nguyện độ khắp tất cả, nghĩa là phải tu luyện cho có được một lòng Bi vô lượng.</p>
<p><em>2. Từ vô lượng. </em></p>
<p>Từ là mến thương và vì mến thương mà gây tạo cái vui cho người. Từ vô lượng là lòng mến thương vô cùng rộng lớn, đối với toàn thể chúng sanh, và gây tạo cho chúng sanh cái vui chân thật.</p>
<p>Vui của thế gian sở dĩ gọi là giả tạm, vì cái vui ấy không bền, cái vui ấy còn phiền não chi phối: khi tham, sân, si, mạn được thỏa mãn thì vui, nhưng có bao giờ những thứ dục vọng ấy có thể thỏa mãn được hoàn toàn và lâu bền đâu?</p>
<p>Còn vui xuất thế gian là cái vui chân thật, vì nó lâu bền, thoát ra ngoài vòng phiền não của tham, sân, si, mạn; nó không bị dục vọng chi phối. Cái vui này không ồn ào, sôi nổi nhưng vĩnh viễn nhẹ nhàng, vì là cái vui của cảnh giới giải thoát siêu phàm.</p>
<p>Muốn có được cái vui này, thì trước tiên phải dứt trừ cho hết các khổ do phiền não gây ra. Nếu không ngăn chặn được tham,sân, si hoành hành, thì chỉ có thể có được mọt cái vui nhất thời giả dối.</p>
<p>Bởi thế, các vị Bồ Tát muốn ban vui cho chúng sanh, thì trước tiên phải có lòng từ bi vô lượng như đã nói trên, để luôn luôn nhắc nhở chúng sanh đừng gây tội dìu dắt chúng sanh tránh xa những hố hầm nguy hiểm.</p>
<p>Qua các giai đoạn đầu tiên ấy rồi, các Ngài mới hướng dẫn chúng sanh đi lên con đường quang minh chánh đại, con đường sáng để tiến đến địa vị giải thoát mà hưởng cái vui vĩnh viễn. Nói một cách rõ ràng hơn là lòng Từ phải đi theo lòng Bi: Bi để chỉ nguyên nhân của đau khổ và khuyên bảo chúng sanh đừng gây nhân khổ; Từ để chỉ rõ phương pháp diệt khổ và được vui.</p>
<p>Tỷ dụ Bồ Tát muốn cho chúng sanh hưởng cảnh Niết Bàn, thì trước hết các Ngài chỉ cho biết thế nào là khổ <em>(khổ đế) </em>và đâu là nhơn của khổ <em>(tập đế)</em>, sau mới chỉ cho thấy cái vui Niết Bàn như thế nào<em> (diệt đế).</em> Nếu chúng sanh y theo lời dạy của các Ngài mà thi hành, thì cái vui Niết Bàn sẽ xuất hiện. Như thế, động lực dạy cho chúng sanh biết khổ đế và tập đế là Bi, còn động lực dạy cho chúng sanh biết diệt và đạo đế là Từ.</p>
<p>Nhưng nỗi khổ của chúng sanh đã là vô lượng, lòng Bi đã là vô lượng, thì lòng Từ cũng phải như thế. Muốn thành tựu tâm Từ này, Bồ Tát phải dùng đủ phương tiện để làm lợi lạc cho chúng sanh. Tựu trung có hai điểm quan trọng sau đây mà Bồ Tát không thể bỏ qua trong khi hóa độ chúng sanh là: <em>Tùy cơ và tùy thời.</em></p>
<p>Tùy cơ: Nghĩa là quan sát trình độ căn bản của chúng sanh như thế nào rồi tùy theo đó mà dạy bảo. Tâm bệnh của chúng sanh vô lượng, nên thuốc pháp của Bồ Tát cũng vô lượng. Nhưng chính vì bệnh vô lượng mà thuốc cũng vô lượng nên cho thuốc đúng với bệnh là một điều mà chỉ có các vi lương y đại tài như Hoa Ðà, Biển Thước mới làm được.</p>
<p>Các vị bồ tát sở dĩ hóa độ được nhiều chúng sanh là nhờ, ngoài trí huệ sáng suốt, còn có một tâm Từ vô lượng, không quản khó khăn, không ngaị gian nguy, một lòng kiên nhẫn vô biên như lòng kiên nhẫn của người mẹ đối với người con, quyết tâm tác thành cho con nên người mới thôi. Nếu không có được trí huệ, chí kiên nhẫn và nhất là lòng từ bi vô lượng như các vị bồ tát thì kho tránh khỏi cái nạn thối chuyển vì trần sa hoặc.</p>
<p>Dưới đây là một đoạn văn chương trong Kinh Hoa Nghiêm có thể chứng minh một cách hùng hồn lòng Từ vô lượng của đức Phổ hiền:</p>
<p><em>&#8220;&#8230;Hằng thuận chúng sanh là như thế nào? Nghĩa là có bao nhiêu chúng sanh ở cõi nước mười phương trong cả pháp giới, hư không giới&#8230;tôi đều tùy thuận mà chuyển mọi thứ thừa sự, mọi cách cúng dường, như kình cha mẹ, như phụng sự sư trưởng và A La Hán cho đến bực như lai đều đồng không khác.</em></p>
<p>Với kẻ bịnh khổ thì làm lương y cho họ, với kẻ lạc đường, chỉ lối thẳng cho họ, với kẻ trong đêm tối, làm cho họ được sáng lên và với kẻ nghèo cùng, khiến cho họ được gặp của&#8230;Bồ Tát làm lợi ích bình đẳng với tất cả chúng sanh như thế là vì bồ tát nhận thấy rằng tùy thuận chúng sanh tức là tùy thuận cúng dường chư Phật nên tôn trọng thừa sự chúng sanh tức là tôn trọng thừa sự Như lai..&#8221;.</p>
<p>Tùy thời. Tức là thích ứng với thời đại với giai đoạn mà hóa độ chúng sanh. Thời gian xoay vần cuộc thế biến chuyển mỗi khi một khác. Thời tiết có khi mưa, khi nắng, thay đổi theo bốn mùa, thì lòng người cũng có khi thích cái này khi ưa cái khác. Nếu phương pháp hóa độ không biến chuyển, không thay đổi để cho thích nghi với hoàn cảnh, với giai đoạn thì phương pháp dù hay ho bao nhiêu, cũng chẳng thu được kết quả gì tốt đẹp. Bồ Tát hiểu rõ như thế, nên khi dạy chúng sanh cũng phải theo thời thế, biết khi nào là tượng pháp, khi nào mạt pháp để cho giáo pháp được thích hợp với căn cơ.</p>
<p>Tóm lại, muốn hóa độ chúng sanh một cách có hiệu qủa thì Bồ Tát bao giờ cũng không quên hai điều chính là tùy cơ và tùy thời. Kinh &#8220;<em>Tâm Ðịa Quán&#8221;</em> cũng có dạy:</p>
<p><em>&#8221; Các đức Phật chuyển pháp luân, vẫn tùy cơ mà nói pháp, bao giờ cũng tránh bốn điều sai lạc; một là nói không phải chỗ; hai là nói không phải thời; ba là nói không phải là căn cơ; bốn là nói không phải pháp&#8221;</em>.</p>
<p>Bởi những lẽ trên nên Bồ Tát trong lúc hóa độ khi thì hiện thân, khi thì ẩn thân lúc làm thuận hạnh, lúc lại nghịch hạnh, khi dùng oai dũng, lúc lại từ hòa. Công hạnh của bồ tát sai khác nhiều đến vô lượng, nhưng chỉ phát sinh từ một ý duy nhất là tạo cái vui chân thật cho chúng sanh.</p>
<p>Nên nhớ <em>&#8220;tạo cái vui chân thật&#8221; </em>ở đây, không có nghĩa là tạo ra cảnh giới thiên đàng hay cảnh giới cực lạc để cho những chúng sanh thân yêu của mình vào hưởng, như người ta ban phép lạ, mà chỉ có nghĩa là tạo cho chúng sanh cái mầm an vui chân thật bằng cách thức tỉnh dắt dẫn chúng sinh tránh các điều dữ làm các điều lành một cách tích cực mạnh mẽ, cho đến khi cái mầm vui, các hành động lành ấy mà kết quả vui mới thôi.</p>
<p>Ðấy, lòng Từ vô lượng là thế. Như trên đã nói Từ phải đi theo với Bi. Nếu chỉ có Bi không, thì đại nguyện của Bồ tát chưa thành, vì mới chỉ cứu hkổ, chứ chưa ban vui. Chúng ta là Phật tử, muốn tu hạnh Bồ Tát phải luyện tập cho lòng Từ mở rộng, mở rộng mãi cho đến vô lượng vô biên.</p>
<p><em>3. Hỷ vô lượng. </em></p>
<p>Hỷ là gì? Nói cho đúng là tùy hỷ, nghĩa là <em>&#8220;vui theo&#8221;. &#8220;Vui theo&#8221;</em> có nhiều cách: Phóng tâm vui theo những cảnh trần: nào sắc, nào thanh, nào hương, nào vị, nào xúc, nào pháp&#8230; để mặc cho nó làm chủ, không biết phản giác, không biết tỉnh ngộ mà dẹp trừ những hiện hành phiền não, ấy là vui theo dục vọng, theo thói quen phóng túng của lòng phàm. Vui theo ác nghiệp, như khi thấy một người sát sanh, uống rượu, trộm cướp&#8230; đáng lẽ ta nên khuyên can mà lại không, còn bằng lòng theo họ đi vào con đường ác. Sự vui theo ở đây có nghĩa là khuyến khích đồng lỏa với kẻ ác vậy.</p>
<p>Vui theo những việc nhân từ phước thiện, như khi thấy người đem của ra bố thí, lập nhà thương, ta tán thành, giúp đỡ vui theo với công việc của họ. Sự vui theo này là một bước tiến đi đến con đường thiện nghiệp. Tuy thế, ta nên phân biệt hai trường hợp tốt sẽ được nhiều phước báo, còn nếu không vì lòng thiện, nhưng vì thấy người làm thiện được người ta ca tụng, danh tiếng vang lừng mà mình cùng hùa theo tán thành, giúp đỡ để được tiếng khen lây, thì không khéo chỉ gây thêm ngã ái ngã mạn.</p>
<p>Khác với những lối vui trên, là những lối vui tầm thường của thế gian, hàng Nhị thừa chỉ vui theo cảnh giới Niết Bàn tịch tịnh. Thứ vui theo này, tuy không có tánh cách trụy lạc ác độc, nhưng theo chánh giáo, thì cũng còn hẹp hòi, thiếu lòng Từ bi rộng rãi và chưa phải đúng nghĩa <em>&#8220;hỷ&#8221;</em> vô lượng tâm. Ðức Phật còn quở đó là cái vui <em>&#8220;Khôi thân diệt trí&#8221;</em> hay<em> &#8220;thu tịch Niết Bàn&#8221;.</em></p>
<p>Chỉ có sự<em> &#8220;vui theo&#8221;</em> sau đây của Bồ Tát mới đúng với nghĩa tâm Hỷ vô lượng. Trong khi thực hành phương tiện Từ bi để độ sinh và sau khi công hạnh này được kết quả, nhận thấy chúng sinh hết khổ, hưởng vui, tâm của Bồ Tát tự nhiên cũng vui theo. Trong luận Ðại Thừa Trang nghiêm Ngài Trần Na Bồ Tát dạy rằng: <em>&#8220;Sự vui này còn nhiều gấp bội sự vui của chúng sinh được hưởng&#8221;</em>. Bồ tát còn xác nhận rằng: <em>&#8220;Nếu làm chúng sinh được vui, tức làm cho tất cả chư Phật được vui mừng&#8221;</em>. Ðó là lời nói của đức Phổ Hiền.</p>
<p>Nên nhớ cái <em>&#8220;Hỷ&#8221;</em> của bồ tát có những đặc điểm sau đây: Chẳng những không làm cho chúng sinh mê lầm mà còn giác ngộ cái mê và được giải thoát. Không còn bị buộc trong vòng vui tự đắc làm tăng trưởng ngã mạn, chấp trước ở thế gian, mà trái lại, làm cho chúng sinh xuất thế.</p>
<p>Thoát ra khỏi phạm vi tư lợi mà phổ biến và bình đẳng đối với tất cả chúng sinh. Tóm lại, sự vui ở đây bắt nguồn từ lòng Từ bi mà phát ra. Lòng Từ bi rộng lớn bao nhiêu thì cái <em>&#8220;hỷ&#8221;</em> này cũng rộng lớn như thế.</p>
<p>Chúng ta là Phật tử, tu hạnh Bồ tát, chúng ta phải tập cho được cái vui trong sạch, giải thoát của các vị bồ tát, chứ đừng quay cuồng theo cái vui nhiễm ô ích kỷ, hẹp hòi của phàm phu hay hàng Nhị thừa.</p>
<p><em>4. Xả vô lượng. </em></p>
<p><em>Xả là cái gì? Xả là bỏ, không chấp không kể. </em></p>
<p>Thói thường, khi chúng ta làm điều gì, nhất là khi được kết quả tốt, thì ta hay tự hào, đắc chí đôi khi ngạo nghễ khó chịu. Sự bất bình, cãi vã xung đột giữa bạn bè thân thuộc hay giữa nhóm này và nhóm khác cũng do tánh chấp trước, tự cho là quan trọng ấy. Nguyên nhân của tánh nầy là do sự chấp ngã, chấp pháp mà ra.</p>
<p>Phàm phu thì vừa thấy có mình làm <em>(chấp ngã) </em>vừa thấy có công việc kết quả mình đạt được <em>(chấp pháp) </em>nên cứ bị trói buộc trong cái giới hạn phân chia nhân ngã, bỉ thử và do đó, không bao giờ thoát được cảnh giới phàm phu.</p>
<p>Còn hàng Nhị thừa tuy đã xả được chấp ngã, nhưng chưa xả được chấp pháp. Sau khi nhờ tu tập, các Ngài thoát ly được tam giới chứng được quả Hữu dư y Niết Bàn, các Ngài coi như đó là phần thưởng xứng đáng của bao công phu tu tập và yên trí nơi cảnh giới sở đắc ấy. Do đó, hàng Nhị thừa vẫn còn bị biến dịch sanh tử.</p>
<p>Chỉ có các vị Bồ tát là những bậc chứng được pháp không, nên đã ly khai quan niệm pháp chấp. Khi các Ngài ra công cứu khổ cho chúng sinh, thì đó là một sự cảm ứng tự nhiên, giữa các Ngài với chúng sinh, các Ngài dùng trí hoàn toàn vô phân biệt để được bình đẳng phổ biến theo đồng thể đại bi.</p>
<p>Chúng sinh có hưởng được vui chăng, Bồ tát không thấy mình là kẻ ân nhân chủ động. Trái lại, các Ngài còn thấy chúng sinh là ân nhân của mình trên bước đường lợi tha tiến đến công hạnh viên mãn. Bởi thế, lòng Từ, lòng Bi của Bồ tát thoát khỏi vòng ái kiến và trụ trước, túc là xả vậy. Ðến như lòng <em>&#8220;Hỷ&#8221; </em>cũng thế, Bồ tát vui lòng từ bi, thấy chúng sinh được vui chứ không phải lối vui tự đắc, vui vì thàh thật tán thán công đức chung cùng chư Phật, chư Bồ tát và chúng sinh, chứ không phải vui vì dắm miếng riêng tư. Cho nên tâm tùy hỷ đây cũng hoàn toàn giải thoát, nghĩa là cũng thanh tịnh trên tinh thần <em>&#8220;Xả&#8221;</em>.</p>
<p>Như vậy, Xả là một tâm lượng quảng đại cao cả, ở đó, không kiến lập một tướng nào. Kẻ gần người xa đeù bình đẳng, kẻ trí người ngu vẫn như nhau, mình và người không khác; làm tất cả mà thấy như không làm gì cả; nói mà thấy mình có nói gì cả, chứng mà không thấy mình có chứng và quả gì được.</p>
<p>Cho nên trong kinh Tú thập nhị chương có chép <em>&#8220;Niệm mà không chấp nơi niệm mới là niệm, hành mà không chấp nơi hành là hành, nói mà không chấp nơi nói mới là nói, tu mà không chấp nơi tu mới là tu. Lý hội nghĩa ấy là gần đạo, mê mờ không rõ là xa đạo&#8221;.</em></p>
<p>Làm như thế tức là Xả: Xả hết tất cả mới thật là Bồ tát. Nếu còn chấp một tướng gì, dù nhỏ nhặt bao nhiêu cũng chưa phải là Bồ tát. Hãy nghe trong kinh Kim Cang Phật dạy ông Tu Bồ Ðề. <em>&#8220;Này ông Tu Bồ Ðề, nếu có vị Bồ Tát còn tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, tức chẳng phải là Bồ Tát&#8221;. </em></p>
<p>Ý nghĩa chữ Xả đã rõ ràng. Bây giờ chúng ta chỉ còn cố gắng tu tập dần dần cho được cái tâm xả ấy. Thành tựu được cái Xả một cách hoàn toàn cái Xả vô lượng tức là chứng quả Bồ đề.</p>
<p><span style="color: #008000;">III. Sự đối trị của bốn món tâm vô lượng  </span></p>
<p><em>Bốn món tâm vô lượng là bốn trạng thái của Tâm Bồ Tát, nhưng đó cũng là bốn pháp tu của những Phật tử tu hạnh Bồ tát. </em></p>
<p>Trong mỗi con người đều có hai xu hướng: xu hướng thiện và xu hướng ác. Hai xu hướng này cứ xung đột nhau luôn: hễ thiện thắng thì ác lùi, hễ ác thắng thì thiện lùi.</p>
<p><em>Khi lòng giận hừng hẩy, thì tâm Bi bị lấn.<br />
Khi lòng sân bừng dậy, thì tâm Từ bị che khuất.<br />
Khi ưu não dẫy đầy, thì tâm Hỷ không phát hiện.<br />
Khi lòng ái dục còn nặng nề, thì tâm Xả không sanh. </em></p>
<p>Trái lại, khi tâm Bi lớn mạnh, thì lòng Hận phải yếu mòn.<br />
Khi tâm từ lan rộng, thì lòng sân phải lùi.<br />
Khi tâm hỷ bừng lên, thì lòng ưu não phải dẹp xuống.<br />
Khi tâm xả đủ đầy, thì lòng ái dục phải dập tắt.</p>
<p>Sự chiến đấu với phiền não cũng như sự chiến đấu với giặc cướp, phải tiếp tục mãi cho đến khi toàn thắng mới dừng lại. Nếu chúng ta mới chiến thắng vài ba trận đã vội thỏa mãn và dừng nghỉ, thì giặp cướp sẽ tai phát và hoành hành trở lại.</p>
<p>Cũng thế, trong trận chiến đấu của Từ, Bi, Hỷ, Xả chống sân, hận, ưu, dục chúng ta phải tiếp tục thi hành cho đến toàn thắng, nghĩa là bành trướng các đức từ, bi, hỷ, xả cho đến vô cùng tận để sân, hận, ưu, dục hoàn toàn bị tiêu diệt mới thôi. Một khi bóng tối đang còn, là vì ánh sáng chưa mạnh, muốn bóng tối hoàn toàn tiêu tan, thì ánh sáng phải đủ sức chiếu soi cùng khắp. Khi từ bi, hỷ xả, đã trở thành vô lượng thì phiền não sẽ không còn và hành giả đạt đến quả vị Bồ tát. Ðó là ý nghĩa <em>&#8220;phiền não tức là Bồ đề&#8221;</em> mà Ngài Bồ tát Trần Na đã dạy trong Luận Ðại Thừa Trang Nghiêm.</p>
<p><span style="color: #008000;">IV. Kết luận</span></p>
<p>Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng <em>&#8220;từ bi hỷ xả&#8221;</em>. Nhưng chính vì <em>&#8220;quen&#8221; </em>quá mà chúng ta không để ý phân tách ý nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho nhau, thiếu một không được.</p>
<p>Vì thấy chúng sinh vô cùng khổ sở, nên thương xót chúng sinh. Vì thương xót chúng sinh nên ra tay cứu chúng sinh khỏi khổ <em>(Bi).</em> Cứu chúng sinh khỏi khổ cũng chưa phải làm xong nhiệm vụ của tình thương, nên cần phải tiếp tục làm cho chúng sinh được vui <em>(Từ)</em>. Khi chúng sinh hết khổ được vui, mình mới vui được <em>(Hỷ).</em></p>
<p>Nhưng nếu cái vui này mà còn vướng ngã mạn, tự đắc vì tự cho mình đã thành tựu những công hạnh lớn lao, thì cái vui ấy trở thành ái dục, dơ bẩn nặng nề, kéo hành giả xuống hàng phàm phu. Vậy cái vui ấy cần phải là một thứ vui trong sạch, hoàn toàn xa lìa các thứ chấp trước như nhân, ngã, bỉ, thử, chúng sinh, Bồ tát..<em>.(Xả).</em></p>
<p>Ðó là về phần phẩm, còn nói về phần lượng thì bốn đức tánh này cần phải rộng lớn vô cùng, hay nói theo danh từ thường dùng, là phải vô lượng. Có vô lượng mới đủ sức cứu độ chúng sinh cũng nhiều vô lượng. Có vô lượng mới lấn át tất cả những phiền não và không cho chúng có đất sống để tái phát và nhiễu loạn.</p>
<p>Ðó là hành tướng và ý nghĩa của bốn món Tâm vô lượng, hay của bốn đức: Ðại từ, Ðại bi, Ðại hỷ, Ðại xả, mà chúng ta thường tán thán mỗi khi niệm các danh hiệu Bồ tát hay Phật.</p>
<p>Phải công nhận rằng có được bốn món Tâm vô lượng không phải là dễ, mặc dù bốn đức ấy đã nằm sẵn trong bản tánh thanh tịnh của chúng sinh. Nhưng cũng đừng thấy khó mà lại chùn chân, lùi bước. Có công việc gì được thành công lớn lao, rực rỡ mà dễ dàng đâu?</p>
<p>Yếu tố quan trọng giúp cho sự thành công là sự quyết tâm và lòng kiên nhẫn. Người tu hành cũng như kẻ trèo núi. Ðừng thấy núi cao mà nản chí, sờn lòng. Trước tiên phải lập chí quyết trèo lên trên cho đến chót núi, rồi sau đó tuần tự kiên nhẫn bước từng bước một, đừng hấp tấp và cũng đừng trễ nải thì một ngày kia thế nào cũng đặt chân lên được chót núi cao.</p>
<p>Người tu hành cũng vậy, hãy phát bốn lời thệ nguyện lớn, rồi cứ tuần tự, kiên nhẫn, mà tu tập theo những pháp môn Phật đã chế cho đến khi thành tựu mới thôi.</p>
</div>
<div style="text-align: right;"><span style="color: #008000;"><span style="font-size: 12px;">Hòa thượng Thích Thiện Hoa</span></span></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://denchua.nhadatso.com/phat-giao-va-bon-mon-tam-vo-luong-tu-bi-hy-xa.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Giới thiệu sơ lược về cuộc đời Đức Phật và sự giáo hóa của Ngài</title>
		<link>http://denchua.nhadatso.com/gioi-thieu-so-luoc-ve-cuoc-doi-duc-phat-va-su-giao-hoa-cua-ngai.html</link>
		<comments>http://denchua.nhadatso.com/gioi-thieu-so-luoc-ve-cuoc-doi-duc-phat-va-su-giao-hoa-cua-ngai.html#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 21 Jun 2015 08:36:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phật Học]]></category>
		<category><![CDATA[doi net ve cuoc doi duc phat va su giao hoa cua ngai]]></category>
		<category><![CDATA[hoc phat]]></category>
		<category><![CDATA[phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[phat hoc]]></category>
		<category><![CDATA[phat phap]]></category>
		<category><![CDATA[thien phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[tin tuc phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[vuon hoa phat giao]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://denchua.nhadatso.com/?p=276</guid>
		<description><![CDATA[Hôm nay là ngày kỷ niệm đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật đản sanh lần thứ 2541, quý Phật tử về chùa mừng đại lễ Phật đản, để tưởng nhớ đến đức Giáo Chủ của chúng ta, chúng tôi xin được nhắc lại vài nét về cuộc đời và sự giáo hóa của]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h3 class="tt-detail">Hôm nay là ngày kỷ niệm đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật đản sanh lần thứ 2541, quý Phật tử về chùa mừng đại lễ Phật đản, để tưởng nhớ đến đức Giáo Chủ của chúng ta, chúng tôi xin được nhắc lại vài nét về cuộc đời và sự giáo hóa của đức Phật.</h3>
<div class="f-detail">
<div style="text-align: center;"><a href="/images/post/2015/06/21/20//cuoc-doi-duc-phat.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-286" src="/images/post/2015/06/21/20//cuoc-doi-duc-phat.jpg" alt="cuoc-doi-duc-phat" width="610" height="412" /></a></div>
<div style="text-align: justify;">
Thứ nhất là về cuộc đời của đức Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni. Thứ hai là những đạo lý mà Ngài đã chứng nghiệm được sau khi từ bỏ lợi dưỡng dục lạc thế gian. Điểm sau cùng tôi muốn nêu lên là tinh thần tu hành của người Phật tử đối với đạo lý Phật dạy qua con đường Thiền.</p>
<p><span style="color: #ff0000;"><strong>1. Cuộc đời của đức Phật:</strong></span></p>
<p>Như chúng ta đều biết, đức Phật xuất thân là một vị Đông cung Thái tử, sống trong nhung lụa với tất cả những tiện nghi của một vị Hoàng đế. Nhưng Ngài không đành lòng hưởng thụ riêng cho mình nên đã từ bỏ tất cả, vượt thành xuất gia để tìm đường giải thoát cho bản thân và nhân loại.</p>
<p>Theo lịch sử vào ngày trăng tròn tháng tư tính theo âm lịch của chúng ta, nhưng theo Ấn Độ thì ngày trăng tròn tháng năm vào năm 543 trước Công Nguyên, tại thành Ca Tỳ La Vệ, trong vườn Lâm Tỳ Ni, Thái tử Tất Đạt Đa ra đời. Cha Ngài là vua Tịnh Phạn thuộc dòng quý tộc Thích Ca, mẹ là Hoàng hậu Ma Da. Sau khi sanh Ngài được bảy ngày thì Hoàng hậu Ma Da qua đời. Người em gái của bà là Ma Ha Ba Xà Ba Đề, tức bà Kiều Đàm Di nuôi dưỡng Ngài. Thái tử được nuôi dưỡng cưng chiều với tất cả tiện nghi cao nhất của một ông hoàng.</p>
<p>Một hôm nhân ngày đầu vụ mùa, vua quan đến vùng nông thôn làm lễ, cày những luống cày đầu tiên với ước nguyện nông dân được trúng vụ mùa, thu hoạch nhiều, đem lại no ấm cho toàn dân. Ngày này gọi là ngày lễ hạ điền. Thái tử Tất Đạt Đa cũng được theo vua cha đến dự lễ hạ điền. Lễ rất vui, mọi người ăn mặc đẹp đẽ, sang trọng. Các nông dân theo nghi thức của nhà nước đến đó dâng lễ đối với các bậc thần thánh tổ quốc và sau đó chuẩn bị cày những luống cày đầu tiên dưới sự chứng kiến của vua, các vị đại thần. Đây là ngày lễ hội rất lớn đối với toàn dân Ấn Độ thời bấy giờ.</p>
<p>Trong lúc mọi người đang nô đùa mừng lễ, Thái tử cũng rất vui nhưng khi thấy từng luống cày, từng thớ đất lật lên có những con trùng, con dế bị đứt làm hai làm ba, liền đó các loài chim ở rừng bay đến, giành nhau nuốt những con vật nhỏ kia. Rồi người thợ săn rình rập đâu đó, lắp cung tên sẵn sàng hạ thủ mấy con chim. Đồng thời trong khu rừng, những con hổ chực chờ để vồ lấy gã thợ săn. Thấy cả một chuỗi tranh giành, cấu xé của chúng sanh, Thái tử quá đau lòng nên sắc diện trở nên trầm tư buồn bã. Thành ra, thay vì dự lễ vui tươi như bao người thì Thái tử lại tìm một nơi yên lắng, ngồi suy tư bất động dưới bóng cây.</p>
<p>Đó là dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngay từ thời bé thơ, đức Phật đã có những biểu hiện khác lạ so với mọi người bình thường ở thế gian. Năm 16 tuổi, Ngài vâng lệnh Phụ hoàng và Hoàng tộc kết hôn cùng công chúa Da Du Đà La và sau</p>
<p>đó sanh ra một hoàng nam là La Hầu La. Theo sử của Phật giáo Đại thừa, Ngài vượt thành xuất gia năm 19 tuổi cho đến 30 tuổi thì thành đạo. Theo sử của Phật giáo Nguyên thủy, 29 tuổi Ngài mới xuất gia.</p>
<p>Thái tử xuất gia không phải là sự từ bỏ của một cụ già đã trải qua hết cuộc đời chán chường hay của người bần cùng nghèo đói, không còn gì để lại phía sau. Đây là sự từ khước của một ông Hoàng, giữa thời niên thiếu trong cảnh ấm no sung túc và thịnh vượng. Tại sao tôi nêu lên điều này? Vì nhiều người cho rằng người đi tu là những kẻ chán thế gian hoặc già nua không còn làm gì được nữa. Ở ngoài đời họ thua thiệt, thiếu thốn, nghèo khó… nói chung là những trường hợp thất chí, thất tình, không còn con đường nào để thoát thân ngoài con đường đi tu. Ở đây vị giáo chủ của chúng ta bỏ thành đi tu vào lúc tuổi thanh xuân với tất cả quyền uy, địa vị, lợi dưỡng, tiện nghi của bậc đế vương, chớ không như cái hiểu thông thường của người đời.</p>
<p>Làm ông hoàng chứng kiến tất cả những sự kiện hiện thực trong đời. Ngay từ thời bé thơ mà Ngài đã có một cái nhìn rất thiết thực về cuộc đời. Mặc dù vâng lệnh Phụ hoàng kế thừa và trưởng thành từ các nghi thức, nghi lễ của thế gian nhưng trong lòng Ngài lúc nào cũng canh cánh những sự kiện trước mắt mà Ngài chưa hài lòng. Ngài vẫn nhớ và thấy một cách tường tận những hiện thực trong cuộc đời là như vậy. Do đó, cuối cùng Ngài cắt đứt, từ giã Phụ hoàng, tất cả người thân để đi xuất gia. Với tấm lòng bao la rộng rãi, Ngài quyết tìm lối thoát hay một chân lý để giải quyết vấn đề sanh tử của kiếp người một cách rốt ráo.</p>
<p>Thái tử cùng Xa Nặc vượt thành, đến nơi bìa rừng Ngài cắt tóc, cởi trả vàng vòng châu báu trao lại cho người cận vệ với lời tự khắc, tự hứa: “Bao giờ tìm được đạo, chứng đạo ta mới trở lại. Ngươi hãy đem tất cả những vật này về trình với Phụ hoàng và thân quyến của ta”. Dứt khoát rồi Ngài bắt đầu cuộc đời kẻ hành khất, trong tay không có vật gì, sống khổ hạnh trong rừng trải dài sáu năm trường. Dưới cội Bồ-đề, Ngài tinh tấn siêng năng tột bực và đã thệ nguyện cả quyết rằng: “Nếu không đạt được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, dù thịt nát xương tan ta quyết không rời khỏi chỗ ngồi này”. Với lời thệ nguyện quả cảm như vậy, Thế Tôn đã giác ngộ hoàn toàn và thành tựu quả vị Phật.</p>
<p>Tôi vừa điểm qua vài nét về cuộc đời của đức Phật. Ngài cũng là con người, cũng có những ưu tư khoắc khoải, những nghi ngờ và cuối cùng Ngài đã tìm ra lối thoát. Trong đạo Phật tuyệt đối không có sự thần khải nào mà tất cả đều được thể nghiệm từ thực tế, với một ý chí mãnh liệt, kiên quyết nhất định sẽ thành công.</p>
<p><span style="color: #ff0000;"><strong>2. Giáo lý của đức Phật:</strong></span></p>
<p>Đức Phật sau khi chứng ngộ Vô thượng Bồ-đề, Ngài có đầy đủ tam minh: Một là túc mạng minh. Hai là thiên nhãn minh. Ba là lậu tận minh. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu qua ba minh này:</p>
<p><span style="color: #008000;"><strong>1. Túc mạng minh.</strong></span></p>
<p>Trong kinh nói rằng “<em>Tư tưởng của Ngài trở nên lắng dịu, tinh khiết, trong sạch, không còn tham ái và ô nhiễm, dễ điều phục, không lay chuyển và luôn tỉnh giác</em>”. Những điều này không lạ nếu chúng ta có nghiên cứu đạo lý, có công phu tu</p>
<p>hành thì sẽ thấy rõ việc điều phục vọng tưởng, làm chủ những niệm lăng xăng là có thể thực hiện được. Bấy giờ tư tưởng hay những dấy niệm của chúng ta sẽ yên lắng dần dần. Cho nên biết đạo lý của Phật dạy là những điều hiện thực.</p>
<p>Tư tưởng yên lắng rồi, những dấy niệm ô nhiễm sẽ yếu thế, nó không còn đủ sức hấp dẫn, kéo lôi người tỉnh táo sáng suốt, làm chủ được mình. Lòng chúng ta yên dịu, cái sáng sẽ lớn mạnh trùm khắp. Bây giờ vọng tưởng còn là vấn đề, là đối tượng vì chúng ta chưa tỉnh, sơ hở từng phút giây nên bị nó kéo lôi. Chúng ta dễ bị mắc mứu, dễ chạy theo cái giả mà bỏ quên cái thật. Với người tu, từ những sự kiện, những lối mòn này mà chúng ta tìm ra lối thoát. Vị giáo chủ của chúng ta cũng đi con đường như vậy. Ngài là một con người, có dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn như tất cả chúng sanh. Ngài ưu tư nghi ngờ, khoắc khoải phấn đấu đến cùng, bao giờ đạt đạo mới thôi. Chúng ta cũng có phấn đấu, có siêng năng nhưng sáng siêng thì trưa lại biếng, sáng mạnh mẽ trưa lại yếu xìu, tối lại ngủ quên rồi lãng quên cả một đời.</p>
<p>Muốn điều phục được những lăng xăng điên loạn, bắt buộc chúng ta phải tỉnh. Có tỉnh thì có tuệ, tỉnh tuệ không rời nhau. Nếu không có tỉnh thì không làm sao có tuệ sáng suốt. Bản thân chúng ta đang hít thở, tất cả giác quan đang tiếp xúc với mọi hiện tượng chung quanh rất bén nhạy, phải ngay nơi đó tỉnh lấy thì không tan thân mất mạng, bằng ngược lại ba cõi sáu đường mở ra cuốn hút chúng ta đi ngay. Kinh nghiệm tu thiền cho thấy, việc làm này từ xưa tới giờ không khác. Người xưa làm được chúng ta cũng làm được. Người xưa phấn đấu thành công, chúng ta phấn đấu tích cực nhất định cũng sẽ thành công.</p>
<p>Đức Phật hướng tâm vào tuệ giác, nhớ lại những kiếp quá khứ. Ngài đã tỉnh thuần thục nên mới hướng tâm tuệ về niệm quá khứ. Nhớ lại một kiếp, hai kiếp cho đến trăm ngàn kiếp. Trong số kiếp vô lượng đó Ngài tên gì, sinh trưởng trong gia đình nào, giai cấp nào, vui thích và khổ đau như thế nào, chết tái sinh ở đâu v.v.. Ngài nhớ lại tất cả. Đây là giai đoạn Ngài đã phá tan lớp vô minh quá khứ, chứng được túc mạng minh.</p>
<p>Bây giờ chúng ta tu hành, ngồi yên, dứt tất cả những nghĩ tưởng lăng xăng, tỉnh và tuệ cụ thể, sáng suốt trùm khắp, hướng tâm tuệ này về những gì đã qua thì nhất định sẽ biết. Những người ngoại đạo thời đức Phật, cũng do công phu thiền định mà họ có thể nhớ lại mười kiếp hay hai mươi kiếp của bản thân và những chúng sanh có liên quan đến họ. Ngoại đạo mà còn có năng lực như vậy huống là chúng ta áp dụng đúng những kinh nghiệm Phật dạy thì nhất định sẽ thành công. Nói thế không phải để chúng ta chuộng thích thần thông, mà để biết rằng mình tu hành có thể thành công và kết quả tất yếu là sẽ đạt được những năng lực như vậy. Việc ấy không khó khăn, mà khó khăn là do chúng ta không siêng năng liên tục.</p>
<p><span style="color: #008000;"><strong>2. Thiên nhãn minh:</strong></span></p>
<p>Ngài hướng tâm thanh tịnh về tri giác hiện tượng sinh và diệt của muôn loài. Chính ngay nơi đây Ngài chứng được thiên nhãn minh. Đây là trí tuệ siêu phàm, thấy được tất cả chúng sinh chết từ nơi đây sẽ tái sinh vào đâu, với bao nhiêu cảnh tượng sang hèn đẹp xấu, khổ vui… tùy thuộc vào hành vi tạo tác của</p>
<p>mỗi người. Nếu tư tưởng hành động xấu ác, không chân chánh thì sau khi chết sẽ tái sinh vào những trạng thái khổ não.</p>
<p>Trong đời sống nếu chúng ta hướng những hành vi, tạo tác hằng ngày theo hướng tốt thì sẽ sống trong niệm chân chánh. Được như vậy, khi chết chúng ta sẽ tái sinh vào thế giới an lạc. Bởi vì khổ vui được hình thành từ luật nhân quả. Muốn được vui, muốn tương lai không khổ thì bây giờ phải đi con đường chân chính, không xấu ác. Hành trì như vậy bảo đảm tương lai, sau khi chết ta sẽ tái sinh vào thế giới không có khổ đau hay ít khổ đau, được an vui. Học biết như vậy rồi Phật tử khỏi cầu nguyện. Quả thực vui hay khổ là tự nơi hành động của mình ngay hiện đời thôi.</p>
<p>Nếu muốn tương lai tốt đẹp thì bây giờ phải phấn đấu trong chánh niệm, trong tinh thần tốt đẹp. Ngay bây giờ mình không làm chủ, hướng niệm hành động theo con đường xấu ác, tạo nghiệp nhân không tốt thì dù có cầu nguyện bao nhiêu đi nữa quả báo chắc chắn cũng sẽ khổ. Hiểu thế chúng ta vững lòng tu, vững lòng làm những việc công đức, vì biết chắc rằng từ những việc làm tốt ta sẽ có quả báo tương ưng.</p>
<p>Trên đời này, ở đâu con người không tin nhân quả nữa thì sự khổ đau sẽ dẫy đầy. Sở dĩ khổ đau giảm bớt, con người có thăng hoa, xã hội còn hướng tốt đẹp là nhờ con người còn tin vào tương lai, tin vào khả năng của chính mình. Dù hiện tại như thế nào nhưng với trí tuệ, năng lực và kinh nghiệm sẵn có, chúng ta sẽ gầy dựng được tương lai tốt đẹp. Mặc dù hiện tại khổ đau nhưng tin chắc tu hành như vậy ta sẽ được an lạc. Vững tâm quyết chí tích cực tu thì nhất định là an lạc lớn lao, thành tựu tốt đẹp sẽ đến với chúng ta.</p>
<p>Tư tưởng, hành động tốt đẹp, chân chính là sống trong chánh kiến. Người sống trong chánh kiến sẽ được hạnh phúc. Ngược lại nếu chúng ta không hướng thiện, không sống nếp chánh kiến, bị va chạm nhiều rồi quên mình đối với những hiện tượng chung quanh thì tương lai chắc chắn sẽ khổ đau. Đây là điều mà Phật tử phải sợ. Sợ đây không phải sợ ma sợ quỷ, sợ hết cơm, hết gạo, sợ mất người thương… những tâm trạng sợ hãi của người thế gian. Sợ đây là sợ ta không đủ tỉnh lực, không quyết tâm, không tin vào hành động của mình có thể chuyển hóa được khổ vui. Sợ là sợ như vậy. Tuy sợ nhưng chúng ta không hoàn toàn bất lực. Càng sợ thì càng kiên tâm, quả quyết thực hiện theo tinh thần của Phật dạy. Chúng ta quyết tâm hành trì theo những phương thức ấy để khắc phục những gì hiện tại ta chưa vừa lòng. Công đức đó, thành tựu đó là do ta mà thành, chính chúng ta làm, chúng ta thực hiện chứ không nhờ vả ở đâu.</p>
<p>Khi đức Phật mục kích rõ ràng sự phân tán, sự cấu hợp trở lại của chúng sinh, thấy rõ chúng sanh chết đi và tái sinh trở lại nơi nào, Ngài phá tan được lớp vô minh có liên quan đến tương lai, chứng được thiên nhãn minh.</p>
<p><span style="color: #008000;"><strong>3. Lậu tận minh:</strong></span></p>
<p>Hướng tâm thanh tịnh về nguồn gốc và con đường chấm dứt các pháp trầm luân, giai đoạn này Ngài chứng được lậu tận minh. Từ đây đức Phật phá sạch tất cả sự tăm tối, thấu suốt tận căn để vì sao chúng sanh trầm luân trong sanh tử và tìm ra con đường để giải thoát sanh tử. Lịch sử nói vào canh ba đêm thứ 49, Bồ-tát</p>
<p>Tất Đạt Đa hoàn toàn giải quyết được việc sinh tử, việc lớn của chính mình và của chúng sanh. Ngài không còn nghi ngờ gì nữa, vì trí giác đã hoàn toàn thông suốt. Thế Tôn giác ngộ viên mãn.</p>
<p>Chúng ta và chúng sanh hiện diện trong thời điểm này, nhưng không biết mình từ đâu lại và chết sẽ đi về đâu. Tại sao chúng ta có mặt ở đây? Tại sao chúng ta phải như vậy? Có vô lượng những vấn đề mình không làm sao biết tường tận được. Có người vất vả cả đời mà không đạt được sở nguyện của mình. Người đó sinh ra, lớn lên, lập gia đình với tất cả tâm nguyện là muốn được nhà lầu, xe hơi v.v.. nhưng cả đời không thực hiện được. Trái lại có những người mới sinh ra, lớn lên đã đầy đủ tiện nghi, thực hiện công việc nào cũng thành tựu dễ dàng, dường như ở đâu sẵn dâng đến cho họ vậy. Đây là những điều ngay trong cuộc sống, chúng ta đối diện mà không biết không hay, không giải quyết được.</p>
<p>Bây giờ qua đạo lý của Phật dạy, chúng ta học và hành trì sẽ là chìa khóa hé mở cánh cửa giải quyết những vấn đề ấy. Nếu công phu mãnh liệt chúng ta có thể phá vỡ những thành trì ấy, thấy rõ nguồn gốc mọi gút mắc và sẽ giải quyết xong vấn đề lớn lao của con người. Cánh cửa, thành trì đó vị giáo chủ của chúng ta và vô lượng bậc Đại thánh đã phá được.</p>
<p>Như đã nói đức Phật chứng được thiên nhãn minh, thấy rõ sự chết đi và tái sinh của các chúng sanh. Đây là một điều lý thú. Bởi vì đối với những điều ta tăm tối, bây giờ mở ra được thì rõ ràng rất lý thú. Nhà Phật gọi đây là tuệ giác thấy tột cùng nguyên nhân sanh tử. Người tu Phật với tâm nguyện làm chủ được sanh tử, giải quyết sanh tử là vấn đề trọng yếu nhất. Sở dĩ sanh làm khổ mình, tử làm khổ mình, cuộc sống này làm khổ mình vì chúng ta chưa đủ trí tuệ, chưa làm chủ được mình. Nên tâm nguyện duy nhất của người tu là giải quyết vấn đề sanh tử của chính mình.</p>
<p>Nếu chúng ta giải quyết được việc sanh tử của mình thì cũng có thể thấy được việc sanh tử của vô lượng chúng sanh, không lầm không nghi nữa. Trong kinh có ghi: “Đây là phiền não, đây là nguyên nhân dẫn đến phiền não, đây là sự chấm dứt phiền não, đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt phiền não”, đức Phật thấy rõ ràng như thế. Bao giờ chúng ta quay lại, thấy được những gì như đức Phật đã thấy là mình hết phiền não.</p>
<p>Chúng ta thật không có giây phút nào yên. Trong đời này có nhiều sự kiện ngộ lắm, người ta cười mà ra nước mắt, khóc mà vui. Có những điều mình nghĩ như vậy mà miệng phải nói khác đi. Thật lạ lùng! Là người tu chúng ta phải làm sao thấy rõ “<em>Đây là sự bất ổn trong tôi, đây là sự chấm dứt những bất ổn trong tôi, đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt những sự bất ổn trong tôi</em>” thấy rõ ràng như thấy một vật trong lòng bàn tay của mình. Người thấy như vậy là người có trí tuệ thông suốt.</p>
<p>Nếu chúng ta biết áp dụng cụ thể lời Phật dạy, không phải thông hết tam tạng giáo điển mà chỉ một pháp nào đó thôi. Như Phật dạy đếm hơi thở sẽ cắt đứt những niệm tưởng lăng xăng. Chỉ bảo đếm hơi thở chớ không tu pháp gì cả. Nếu áp dụng phương pháp đếm hơi thở với một tuệ giác thấy rõ: “<em>Đây là những lăng xăng loạn tưởng trong tôi, sự chấm dứt những lăng xăng loạn tưởng trong tôi và những phương thức chấm dứt những lăng xăng loạn tưởng trong tôi”</em>. Thấy rõ ràng như vậy thì không ai dại gì sống với cái lăng xăng mà quên cái tỉnh sáng của mình. Hướng tu hành của chúng ta là vậy.</p>
<p>“<em>Đây là ô nhiễm, đây là sự chấm dứt ô nhiễm, đây là con đường chấm dứt ô nhiễm</em>”. Tôi dẫn lời này để thấy một việc làm bình thường chúng ta có thể thực hành được, chớ không phải quá khó. Đừng bao giờ mang tư tưởng rằng đạo lý ấy, tuệ giác ấy, quả chứng ấy là của Phật, Bồ-tát chứ mình không có phần, không dính dáng gì hết. Không phải như vậy! Phật nói pháp để chúng sanh tiếp thu và thể nghiệm, chớ đâu phải nói cho chúng ta không tu được. Phật hiểu rõ là bản thân chúng sanh sẽ đạt được kết quả nếu ứng dụng tu tập đúng pháp mới nói chứ!</p>
<p>Tôi tin rằng Phật còn tại thế, Ngài cũng không ngồi nói như chư Tăng bây giờ. Lời Phật rất giản dị, có khi là sự biểu trưng qua một hình ảnh nào thôi, nhưng khiến người đương thời nhận hiểu xuyên qua trực giác bản thân của người đó. Như thế pháp Phật dạy, biểu trưng do Phật thể hiện mới có giá trị, có tác dụng nâng đỡ, giúp con người hết khổ được vui.</p>
<p>Tâm Phật đã giải thoát khỏi những dục lậu tức là hết mọi nhiễm ô dục vọng. Hữu lậu là những ô nhiễm của sự luyến ái thế gian, vô minh lậu là những ô nhiễm của vô minh. Màng vô minh giải tỏa, trí tuệ phát ra, đêm tối đã tan, ánh sáng lại đến, Ngài thành đạo. Từ bản thân thể nghiệm, trải qua quá trình tu chứng, đức Phật mạnh dạn chỉ dạy lại cho chúng ta, vì Ngài biết mình cũng có những khả năng như thế. Ngài phá tan màng vô minh tăm tối, vén lên được chân trời tỏ rạng cho chính bản thân mình và tất cả chúng sanh. Như vậy rõ ràng cái tăm tối trong tâm thức chúng ta hiện nay có phương thức giải trừ, phiền não đang âm ỉ trong ta có thể bỏ được. Đạo lý giải thoát đức Phật dạy chúng ta có thể thực hiện được.</p>
<p>Thế nên chúng ta hãy vững niềm tin phấn đấu, vươn lên để đạt được sở nguyện giải thoát sanh tử, chấm dứt khổ đau. Khổ theo cái nhìn của đạo Phật không phải là thiếu ăn thiếu mặc mà khổ là bị còng trói bởi những tiện nghi dục lạc, những hiện tượng điên đảo. Đây là cái khổ thống thiết, nếu chúng ta không tỉnh sáng để thoát ra thì không cách gì cởi mở, cắt đứt được. Nêu lên cuộc đời và giáo lý của đức Phật là chúng tôi hy vọng tất cả chúng ta cũng sẽ thực hiện được như vậy.</p>
<p>Tôi xin dẫn câu chuyện “Phật là ai?” như thế này. Có một vị theo Bà La Môn giáo, ở Ấn Độ Bà La Môn giáo là quốc giáo, vị này tên là Dona. Nhân đi qua đường, thấy trên đất in lại những dấu chân của đức Phật rất đặc biệt. Ông tìm đến hỏi Phật:</p>
<p>- Thưa Ngài, phải chăng Ngài là một vị trời?</p>
<p>Phật trả lời:</p>
<p>- Không, ta không phải là một vị trời.</p>
<p>- Vậy phải chăng Ngài là một nhạc công ở cõi trời?</p>
<p>Phật trả lời:</p>
<p>- Ta cũng không phải là nhạc công ở cõi trời.</p>
<p>- Ngài là quỷ Saka(1) chăng?</p>
<p>- Không, ta không phải là quỷ Saka.</p>
<p>- Như vậy Ngài là người chăng?</p>
<p>- Không, quả thật ta cũng không phải là người.</p>
<p>- Vậy xin cho biết Ngài là ai?</p>
<p>Đức Phật trả lời:</p>
<p>- Ta là người đã tận diệt hết những pháp trầm luân, những nguyên nhân để tái sinh vào ba cõi.</p>
<p>Nói tóm lại, đức Phật là người đã tận diệt hết những nguyên nhân đi trong ba cõi sáu đường. Vì thế nên hỏi làm trời Ngài phủ nhận, làm người Ngài cũng phủ nhận… Bởi vì Ngài đã giải thoát ra ngoài những hình thức đó.</p>
<p>Qua đạo lý này chúng ta mới thấy cái siêu việt của đạo Phật. Nó chỉ rõ nguyên nhân của những sự kiện, những pháp đã hình thành như thế, như thế. Và sau cùng đức Phật đưa ra con đường để thoát khỏi những sự kiện đó. Bởi thế nên nói Như Lai đã vượt ngoài Tam giới.</p>
<p>Có lời kệ như thế này:</p>
<p><em>Như hoa sen đẹp và dễ thương,</p>
<p>Không ô nhiễm bùn nhơ nước đục,</p>
<p>Giữa đám bụi trần ta không vướng chút bợn nhơ,</p>
<p>Như vậy ta là Phật.</em></p>
<p>Giác ngộ toàn triệt và giải thoát tất cả. Cuối cùng Ngài trả lời cho chúng ta như vậy. Như đóa sen đang nở và ngát hương thơm, đóa sen không bị nhiễm ô bởi nước đục bùn nhơ. Giữa đám bụi trần ta không vướng chút bợn nhơ, nghĩa là sống giữa bụi trần ai mà không vướng chút bợn nhơ nào hết. Như vậy ta là Phật, giác ngộ toàn triệt, gỡ tung những mắc mứu lâu nay, giải thoát hoàn toàn. Đó là điểm thứ hai chúng tôi nêu lên về đạo lý mà vị giáo chủ của chúng ta đã thực hiện được.</p>
<p><span style="color: #008000;"><strong>3. Tinh thần tu hành của người Phật tử đối với đạo lý Phật dạy qua con đường Thiền.</strong></span></p>
<p>Người tu thiền cũng giống như người học bơi lội. Người học bơi lội được huấn luyện viên chỉ về phương pháp và kỹ thuật căn bản, sau đó hoàn toàn tùy thuộc y. Nếu như y không chịu nhảy xuống nước tập bơi thì y không bao giờ bơi được. Cách học duy nhất là y phải nhảy xuống nước và bắt đầu thực hành theo lời huấn luyện viên đã dạy. Nếu y chăm chỉ thực hành thì y có thể trở thành tay bơi cừ khôi. Nếu chỉ học hiểu mà không thực hành thì làm sao trở thành tay bơi cừ khôi được?</p>
<p>Lời dạy này bình thường mà rất hiện thực. Chúng ta muốn được giác ngộ, muốn được thành Phật hay được hết khổ thì phải tu, phải thực hành. Học hiểu là một giai đoạn không thể thiếu, nhưng hành trì là một giai đoạn quyết định sự học hiểu của chúng ta. Đường lối trong thiền tông cũng vậy, nếu chúng ta muốn được giác ngộ thì phải tìm đến ông thầy để lãnh hội lời chỉ giáo. Sau khi nhận được sự chỉ giáo rồi, quan trọng nhất là phải thực hành. Qua thực hành chúng ta mới có thể giác ngộ. Thực hành là việc của chính bản thân mỗi người.</p>
<p>Chúng ta có duyên gặp được thầy, có kinh điển, có tất cả những trợ duyên cần thiết để làm thành kinh nghiệm cho mình. Tuy nhiên bản thân chúng ta không thực hành, chỉ hiểu biết rồi đọc tụng rao giảng, chưa thể nghiệm thực đối với giáo lý Phật dạy, đối với pháp thiền thì chúng ta chưa thể có cái nhìn thấu suốt được. Đối với pháp tu thiền đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn thấu suốt và thể nghiệm thật. Nếu muốn hết khổ, được giải thoát, có trí tuệ thì phải thực hành.</p>
<p>Phật dạy là tất cả chúng ta đều có khả năng thành Phật. Liệu mình có tin một cách khẳng định như vậy chưa? Đây là điều chúng tôi nêu lên để khẳng định cho pháp tu, sự hành trì và công phu của chúng ta. Đức Phật cũng là người, máu Ngài cũng đỏ, nước mắt cũng mặn, thân và tâm Ngài cũng không khác ta xa lắm. Trước lúc giác ngộ, Ngài cũng có những ưu tư, xung đột và nghi ngờ. Song nhờ trí tuệ mà Ngài tự đào luyện và khám phá ra Phật tánh của mình và được giác ngộ. Tất cả chúng ta cũng có khả năng, có chất liệu đó nhưng liệu xem ta đã quyết tâm phấn đấu chưa? Đây là những điều cụ thể mà ta không thể nào cất trong tủ khóa kín lại, mong một ngày nào đó có vị thánh thần đến ban cho mình được thành Phật, được giác ngộ.</p>
<p>Là người con Phật, ngày kỷ niệm này tuy cách chúng ta hơn hai ngàn năm trăm năm nhưng lời dạy và sự thể nghiệm của Ngài còn đó. Nếu chúng ta chịu làm chịu thể nghiệm thì kết quả y nhiên như vậy. Chúng ta chịu mở cửa phát huy hướng đến tâm tuệ, nhận khả năng giác ngộ của mình một cách cụ thể chính xác thì việc thực hiện được sẽ đạt kết quả không nghi.</p>
<p>Trong đạo Phật rất dè dặt đối với những cái gọi là siêu nghiệm, thần thông. Vì thần thông có khi nó làm mờ đi trí giác. Ở đây chỉ muốn nói những cái gì hiện thực trong đời sống của chúng ta. Được sống trong hoàn cảnh này chúng ta chỉ cố gắng tu thôi. Tu nghĩa là sửa, những gì còn xấu dở chúng ta loại bỏ nó ra, buông nó đi. Ai chịu sửa là người đó biết tu. Nếu mình còn cố chấp chưa chịu bỏ cái dở là chưa chịu tu, dù hình thức bề ngoài đẹp thế nào mà bên trong chưa trừ bỏ các chủng tử nghiệp xấu cũng chưa phải là tu.</p>
<p>Lời cuối cùng tôi xin gởi đến quí vị, tất cả chúng ta là con của Phật, quí kính Phật trong ngày kỷ niệm trọng đại này, chúng ta cùng nhau về đây, dâng lòng thành cúng dường Tam bảo, với tâm nguyện kiên quyết làm theo lời Phật dạy, bằng cách sửa bỏ những gì không hay. Nỗ lực phát huy định tỉnh để được sáng suốt, thấy rõ phiền não, sự chấm dứt của phiền não, sáng suốt thấy rõ những hiện tượng chung quanh, những dây mơ rễ má, những gì không thật đeo bám quanh ta mà gỡ bỏ hết đi. Chúng ta nhận hiểu thấu đáo lời dạy của đức Phật để thực hiện giác ngộ được như Ngài. Đó là người Phật tử biết tu chân chánh.</p></div>
<div style="text-align: right;">
<span style="font-size: 12px;"><strong><span style="color: #008000;">Hòa thượng &#8211; Thích Nhật Quang</span></strong></span></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://denchua.nhadatso.com/gioi-thieu-so-luoc-ve-cuoc-doi-duc-phat-va-su-giao-hoa-cua-ngai.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sống như thế nào để cuộc đời bạn tràn đầy ý nghĩa</title>
		<link>http://denchua.nhadatso.com/song-nhu-the-nao-de-cuoc-doi-ban-tran-day-y-nghia.html</link>
		<comments>http://denchua.nhadatso.com/song-nhu-the-nao-de-cuoc-doi-ban-tran-day-y-nghia.html#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 21 Jun 2015 08:36:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phật Học]]></category>
		<category><![CDATA[hoc phat]]></category>
		<category><![CDATA[phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[phat hoc]]></category>
		<category><![CDATA[phat phap]]></category>
		<category><![CDATA[thien phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[tin tuc phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[vuon hoa phat giao]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://denchua.nhadatso.com/?p=277</guid>
		<description><![CDATA[Mục đích của cuộc đời chúng ta là giúp đỡ chúng sinh; nếu không thế, ít nhất là không làm hại họ. Trong phạm vi công việc hàng ngày của bạn, hãy bắt đầu nó một cách trung thực, với sự chính trực. Nếu bạn làm điều đó với một mức độ gian dối, bạn]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h3 class="tt-detail">Mục đích của cuộc đời chúng ta là giúp đỡ chúng sinh; nếu không thế, ít nhất là không làm hại họ. Trong phạm vi công việc hàng ngày của bạn, hãy bắt đầu nó một cách trung thực, với sự chính trực. Nếu bạn làm điều đó với một mức độ gian dối, bạn sẽ không thể rút ra được ý nghĩa cốt tủy từ cuộc đời này</h3>
<div class="f-detail">
<div style="text-align: center;"><a href="/images/post/2015/06/21/20//cuoc-song-y-nghia.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-287" src="/images/post/2015/06/21/20//cuoc-song-y-nghia.jpg" alt="cuoc-song-y-nghia" width="490" height="434" /></a></div>
<div style="text-align: justify;">
Để làm cuộc đời ta đầy ý nghĩa, ta cần một thực hành tâm linh. Trước hết, tôi sẽ đưa ra lời khuyên cho những ai không theo bất kỳ con đường tâm linh nào, sau đó cho những người đang ở trên con đường tu tập.</p>
<p>Mục đích của cuộc đời chúng ta là giúp đỡ chúng sinh; nếu không thế, ít nhất là không làm hại họ. Trong phạm vi công việc hàng ngày của bạn, hãy bắt đầu nó một cách trung thực, với sự chính trực. Nếu bạn làm điều đó với một mức độ gian dối, bạn sẽ không thể rút ra được ý nghĩa cốt tủy từ cuộc đời này.</p>
<p>Chúng ta cần phải dừng lại và nghĩ về những điều làm cho cuộc đời ta có ý nghĩa. Rõ ràng là có được một đời người thì vô cùng lợi lạc. Chúng ta ở đây để giúp đỡ chúng sinh, giúp đỡ xã hội và như thế làm lợi lạc cho đất nước chúng ta. Nếu ta được sinh làm người và thành tựu những mục đích này, cuộc đời làm người của ta thật là ý nghĩa. Ta có thể nói rằng để khiến cho cuộc đời ta có ý nghĩa, ta đang cố gắng phát triển thiện tâm và lòng từ bi. Nhưng ta cần những nguyên nhân và điều kiện <em>(nhân và duyên)</em> hỗ trợ cho những phẩm tính này.</p>
<p>Nếu ta có một tâm thức tiêu cực, ta không yêu quý chúng sinh. Để thiết lập thiện tâm trong tâm thức một con người, vai trò của cha mẹ và các vị Thầy thật quan trọng ngay từ lúc bắt đầu. Từ quan điểm này, cha mẹ có một trách nhiệm trọng yếu. Các tranh đấu giữa cha mẹ sẽ ảnh hưởng đến con cái của họ. Nếu cha mẹ tỏ ra đạo đức và thiện tâm, con cái của họ cũng sẽ như vậy.</p>
<p>Hơn nữa, khi trẻ em chơi đùa, chúng không nên giao thiệp với những kẻ có một ảnh hưởng tiêu cực. Khi trẻ em lớn lên, chúng sẽ ảnh hưởng đến những người xung quanh bởi sự chân thành và thiện tâm của chúng. Điều này sẽ dẫn đến một đất nước yên bình hơn. Có những ví dụ có thật trong lịch sử để củng cố vững chắc cho điều này.</p>
<p>Chỉ có lòng tốt và làm lợi lạc chúng sinh không thôi thì không đủ. Trẻ con cần phải học tập để kiếm sống trong xã hội. Vì thế, sự học tập cùng với lòng tốt sẽ mang lại một môi trường ổn định. Nếu ta được dậy dỗ bằng đạo đức tốt lành và việc học tập sâu sắc, ta ít có khả năng phát triển các hành vi tiêu cực như sát sanh và trộm cắp. Tuy nhiên, chỉ tránh xa các hành vi tiêu cực thì không đủ. Ta phải có niềm tin rằng những hành động như thế là sai trái.</p>
<p>Một niềm tin như thế đến từ bên trong bạn. Tiến trình kiểm tra để xem điều gì là tốt lành và điều gì không tốt lành là một thực hành tâm linh, dù ta có gọi nó như thế hay không. Đức Nagarjuna vĩ đại nói rằng nếu bạn thực hành đạo đức tốt lành thì một hiện hữu thuận lợi không ở quá xa trong tương lai, dù bạn có tự nhận mình là tâm linh hay không.</p>
<p>Điều cốt lõi là khi bạn dấn mình với những người khác, bạn nên tự hỏi: <em>“Tôi đang giúp đỡ họ hay làm hại họ?</em>” Nếu kiếm lời có nghĩa là làm hại người khác thì đừng làm điều đó. Nếu bạn có thể kiếm lời mà không làm hại người khác thì điều đó chấp nhận được. Cũng như trong trường hợp ta làm việc cho một công ty hay chính phủ, nếu ta nghĩ:<em> “Tôi sẽ làm việc chăm chỉ để làm lợi lạc nhân viên của tôi,”</em> điều đó là tốt, nhưng ngoài ra, nếu ta nghĩ: “<em>Tôi sẽ làm điều này để làm lợi lạc chúng sinh,</em>” thì nó trở thành một thực hành tâm linh.</p>
<p>Khi bạn dấn mình vào công việc hay các dự án, đừng đặt các mục đích của bạn quá cao. Bởi nếu bạn không thành tựu chúng, bạn sẽ trở nên phiền não và ngã lòng. Hãy hài lòng, khiêm tốn và đừng hy vọng quá nhiều.</p>
<p><strong>Bây giờ là một vài lời khuyên các hành giả tâm linh</strong></p>
<p>Chúng ta sử dụng cuộc đời mình để có được nhà ở, của cải và tài sản, nhưng những thứ này không vững chắc hay quan trọng như thế. Vào lúc chết, ta bỏ lại tất cả chúng ở sau lưng. Vì thế đừng coi chúng là quá quan trọng. Trong thực tế, nếu ta có nhiều của cải và người hầu hạ thì vào lúc chết, những điều này có thể gây ra nhiều tổn hại. Ta thường gây ra các hành động tiêu cực để trở nên giàu có. Khi ta chết tất cả những gì ta mang theo mình là những ác hại được tạo ra. Nhiều của cải có nghĩa là nhiều vướng mắc, là những gì mang lại nhiều tiêu cực hơn.</p>
<p><em>Điều gì mang lại lợi lạc cho ta vào lúc chết?</em></p>
<p>Với tâm thức ước muốn làm lợi lạc chúng sinh và không làm hại họ, ta có thể chết một cách yên bình. Mỗi ngày bạn đến gần cái chết hơn nữa. Vì thế mỗi sáng bạn cần có một vài động lực để tiếp tục. Như thường lệ, ta thức dậy và những tư tưởng đầu tiên của ta là lập kế hoạch cho các hoạt động trong ngày. Thay vào đó, hãy phát triển một thái độ tích cực, một động cơ rõ ràng để sử dụng một ngày thật tốt lành trong việc giúp đỡ chúng sinh. Nhiều yogi vĩ đại phát sinh sự hân hoan khi thức dậy: <em>“Quả là kỳ diệu khi tôi không chết đêm qua, vì thế tôi sẽ làm cho ngày hôm nay tràn đầy ý nghĩa bằng cách thực hành tâm linh càng nhiều càng tốt.”</em></p>
<p>Trong ý nghĩa này, các yogi chia một ngày của họ thành sáu thời kỳ. Vào lúc thức dậy, các yogi gia hộ cho lời nói, khiến cho những lời nói lừng chừng của các ngài trở nên đức hạnh. Các ngài gia hộ cho những chuỗi cầu nguyện khiến giá trị của các thần chú được tăng trưởng nhiều lần. Khi đã sắp đặt động lực của mình, các ngài gia trì thân thể mình khiến cho những việc lễ lạy chư Phật được thực hiện trong một trạng thái trong sạch.</p>
<p>Nếu ta có niềm tin rằng Đức Phật ở đó, các lễ lạy có một hiệu quả lớn lao. Khi đó ta cúng dường trái cây, hoa v.v.. cho ruộng công đức tâm linh và sắp đặt bảy chén nước trong khi hình dung chúng là chất cam lồ và trở nên thích hợp với các hiện thể linh thánh. Sau đó ta ngồi trong tư thế thiền định và phát triển động cơ đúng đắn. Động cơ vĩ đại nhất là ước muốn giải thoát tất cả chúng sinh. Khi biết rằng Đạo sư là nền tảng của con đường, hãy biết ơn Đạo sư của bạn. Hãy quyết tâm rút ra được lợi lạc của những thuận duyên này cho phần đời còn lại của bạn.</p>
<p>Để tạo ra năng lực tâm linh tích cực, hãy dấn mình vào sự tịnh hóa và tích tập công đức. Hãy chất đầy các pho tượng bằng thần chú v.v&#8230; Nếu biết rằng bạn sẽ dẫm đạp côn trùng, bạn có thể tụng một thần chú và thổi vào lòng bàn chân bạn để mang lại thật nhiều lợi lạc cho các côn trùng. Có một loại tinh linh được gọi là quỷ đói. Bạn có thể tụng các thần chú cho quỷ đói và hồi hướng khiến những gì bạn bài tiết sẽ cung cấp như thực phẩm cho họ. Hãy tụng Om Mani Padme Hum và hồi hướng. Bạn cũng có thể cúng dường các vị Hộ Pháp để các tinh linh ác hại không quấy rối việc thực hành của bạn.</p>
<p>Các chướng ngại được tạo nên bởi bám chấp vào các sự việc như những gì thường hằng. Hãy thiền định về lẽ vô thường. Nếu ta không nghĩ về lẽ vô thường, và chỉ nghĩ về cuộc đời này, các chướng ngại cho việc thực hành Pháp sẽ sinh khởi. Cho dù bạn nhớ đến việc thực hành, nhưng không nghĩ về cái chết, khi ấy các thực hành của bạn chỉ dành cho cuộc đời này và không trở thành Pháp chân thực.</p>
<p>Hãy nỗ lực để loại bỏ sự suy đồi này. Nó trở thành nguyên nhân cho sự đọa lạc của bạn, nếu bạn dấn mình vào việc sát sinh, trộm cắp v.v.. để mưu cầu các lợi lạc trong cuộc đời này. Bạn cần phải nhớ tưởng về cái chết. Nếu không, vào lúc chết, bạn sẽ hối tiếc vì đã không thực hành. Cho dù bạn không tin vào những đời sau, bạn vẫn có thể chết tốt lành, không hề hối tiếc.</p>
<p>Nếu ta nghĩ về cái chết, các điều trái ngược chính xác của việc không nghĩ về cái chết sẽ phát sinh. Khi đó bạn sẽ đi vào cửa để thực hành Pháp. Có nhiều câu chuyện xác nhận những lợi lạc của việc nhớ tưởng về cái chết. Ở Mông Cổ, một người chăn cừu giết cừu và đặt con dao của ông ta trên một tảng đá. Thình lình, một con trong đàn cừu còn lại lao mình vào con dao, ỉa vãi ra và nằm đó với bao tử bị cắt rời. Người chăn cừu phải tìm kiếm con dao trong đống ruột và phân. Người ấy nhận ra rằng con cừu biết người chăn cừu sẽ giết những con cừu kia và nó cố gắng cứu chúng bằng cách hy sinh thân mình.</p>
<p>Người chăn cừu ấy kêu khóc và phát khởi lòng đại bi và về sau trở thành một nhà sư. Ông sinh khởi tâm từ bỏ mạnh mẽ đến nỗi ông đã trở thành một Lạt ma, và các hóa thân của vị Lạt ma đó vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay. Câu chuyện này cho thấy sức mạnh của động lực được phát khởi từ việc nghĩ tưởng về lẽ vô thường và cái chết.</p>
<p>Các geshe vĩ đại phái Kadampa đã nói rằng nếu buổi sáng bạn không quán chiếu về cái chết, buổi sáng sẽ bị uổng phí. Vào buổi chiều, nếu bạn không nghĩ về cái chết, buổi chiều sẽ bị lãng phí. Và ban đêm, nếu bạn không nghĩ tưởng về cái chết, ban đêm sẽ bị lãng phí.</p>
<p>Theo cách này, các thực hành Pháp của các ngài vô cùng ý nghĩa. Ta cần một ý thức liên tục về lẽ vô thường và cái chết để duy trì việc thực hành Pháp của ta. Nếu không, bạn sẽ từ bỏ một cách dễ dàng. Việc quán chiếu về cái chết mang lại sức mạnh nhằm đánh đổi bất kỳ hành động tiêu cực nào, để tịnh hóa các tiêu cực. Nếu ta có thể nhớ lại sự vô thường và cái chết, ta sẽ không dấn mình vào sự trộm cắp hay tranh đấu.</p>
<p>Việc đáp trả sự ngược đãi là một dấu hiệu cho thấy bạn không nghĩ tưởng về cái chết. Thay vì điều này, bạn có thể trở nên mềm mại và chấp nhận sự sỉ nhục để tránh tạo ra các điều tiêu cực có thể chín mùi khi bạn chết. Việc nhớ tưởng đến cái chết khiến cho các cội gốc đức hạnh của ta mạnh mẽ và ta có thể chết một cách an lành, không hối tiếc hay sợ hãi.</p>
<p>Đối với <em>“hành giả vĩ đại”, </em>cái chết giống như việc thay quần áo. Đối với “<em>hành giả trung bình”</em>, ta qua đời với sự thanh thản. Đối với các <em>“hành giả hạ căn”</em>, ta có thể chết mà không hối tiếc. “<em>Tôi đã làm hết sức mình.” </em>Một geshe già nổi danh trong lớp của Rinpoche muốn gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhưng đệ tử của vị geshe lo lắng rằng ngài quá yếu đuối để thực hiện cuộc hành trình. Vị geshe nói: <em>“Ta sẽ thanh thản khi ta chết. Ta đã làm hết sức mình.</em>”</p>
<p>Ta biết ta sẽ chết nhưng không biết rõ khi nào. Có nhiều nguyên nhân để chết hơn là để sống. Khi bạn cố gắng chữa lành một bệnh tật, điều đó đòi hỏi một nỗ lực lớn lao. Tuy nhiên chỉ một ngón tay nhiễm trùng là có thể đưa tới cái chết. Hơn nữa, các điều kiện duy trì sự sống có thể trở thành các điều kiện đưa đến cái chết. Chẳng hạn như nhà của ta, xe hơi của ta có thể khiến ta chết, cho dù ta cẩn trọng về phần mình. Khi thức dậy, ta nên nghĩ:<em> “Kỳ diệu biết bao nếu hôm nay ta không chết. Ta phải làm cho ngày hôm nay tràn đầy ý nghĩa.”</em></p>
<p>Ta nên phân biệt giữa đời này và những đời sau. Một sự tập trung vào những đời sau khiến cho ta hài lòng với cuộc đời này. Chẳng hạn như một sự chú tâm vào đời này tạo nên hoàn cảnh ganh tị với các người láng giềng của bạn, vì thế tạo nên các điều tiêu cực. Thay vào đó, chúng ta nên hoan hỉ &#8211; kỳ diệu biết bao, họ đã có những gì họ muốn! Hãy buông bỏ. Đừng đố kỵ. Nếu bạn mất của cải, đừng lo lắng quá mức, bởi trọng tâm của bạn là nhắm vào những đời sau.</p>
<p>Thực hành Pháp là gì? Trì tụng các thần chú và v.v.. là thực hành tâm linh trong một chừng mực. Nhưng việc thực hành Pháp đích thực là canh giữ tâm ta tránh khỏi các cảm xúc tiêu cực.</p>
<p><strong>Ba loại người</strong></p>
<p>1. Người có căn cơ nhỏ bé<em> (hạ căn)</em>: Hãy tránh làm 10 ác hạnh và nên quy y để có được một tái sinh tốt lành.</p>
<p>2. Người có căn cơ trung bình <em>(trung căn)</em>: Hãy thoát khỏi mọi chướng ngại đối với sự giải thoát để vượt thoát luân hồi.</p>
<p>3. Người có căn cơ cao cấp<em> (thượng căn</em>): Chúng sinh muốn được hạnh phúc và tránh xa đau khổ, vì thế tôi sẽ nỗ lực để khiến họ hoàn toàn hạnh phúc, nghĩa là thành tựu Phật quả. Bởi chỉ có một vị Phật mới có thể làm được điều này, tôi cần có những phẩm tính của một vị Phật, vì thế tôi sẽ thành Phật.</p>
<p>Hãy bắt đầu bằng cách cố gắng giảm bớt phiền não mạnh mẽ nhất của bạn, dù nó là sự nguyền rủa, sỉ nhục người khác, tham vọng quá mức v.v.. Khi thức dậy, hãy cương quyết tránh sự phiền não đó trong ngày. Vào lúc cuối ngày, hãy xem xét lại tiến bộ của bạn. Cuối cùng, bạn có thể đánh đổi những cảm xúc tiêu cực này. Đây mới là ý nghĩa thực sự của một hành giả tâm linh trung thực.</p>
<p><strong>Hai hoạt động</strong></p>
<p>Có hai hoạt động: một vào lúc bắt đầu và một vào lúc kết thúc. Vào lúc bắt đầu, bạn đặt ý hướng hay động lực của bạn và lúc kết thúc, bạn xem xét lại thành công của bạn trong việc hoàn thành ý hướng. Trong công việc hàng ngày, bạn sắp đặt các mục đích và đo lường các thành tựu. Điều này đồng nhất với thực hành tâm linh. Nếu bạn thành công, hãy hoan hỉ.</p>
<p>Nếu không, hãy áp dụng một phương pháp để tịnh hóa các dấu vết nghiệp quả. Nếu bạn tụng các thần chú, bạn phải tin tưởng rằng cuối cùng các tiêu cực của bạn đã được tịnh hóa. Niềm tin thì cần thiết. Khi đi ngủ, bạn nên gieo trồng một động lực đức hạnh. Nếu bạn đi ngủ với Bồ đề tâm, giấc ngủ của bạn sẽ trở nên tích cực. Các tư tưởng ác hại trong lúc ngủ thiếp đi có nghĩa là giấc ngủ tiêu cực. Ngoài ra, sự hối tiếc có thể là tích cực hay tiêu cực. Nếu bạn giúp một người nào đó và về sau hối tiếc vì đã giúp đỡ họ, đó là hối tiếc tiêu cực.</p></div>
<div style="text-align: right;"><span style="font-size: 12px;"><span style="color: #008000;">Thanh Liên </span></span></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://denchua.nhadatso.com/song-nhu-the-nao-de-cuoc-doi-ban-tran-day-y-nghia.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những lời khuyên bổ ích về Thiền định</title>
		<link>http://denchua.nhadatso.com/nhung-loi-khuyen-bo-ich-ve-thien-dinh.html</link>
		<comments>http://denchua.nhadatso.com/nhung-loi-khuyen-bo-ich-ve-thien-dinh.html#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 21 Jun 2015 08:36:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phật Học]]></category>
		<category><![CDATA[hoc phat]]></category>
		<category><![CDATA[loi khuyen ve thien dinh]]></category>
		<category><![CDATA[phat giao vuon hoa phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[phat hoc]]></category>
		<category><![CDATA[phat phap]]></category>
		<category><![CDATA[thien phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[tin tuc phat giao]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://denchua.nhadatso.com/?p=278</guid>
		<description><![CDATA[Khi bạn đọc các sách về thiền định, hoặc khi thiền định được trình bày bởi các nhóm khác nhau, đa số mọi người nhấn mạnh về phần kỹ thuật. Ở phương Tây, người ta có khuynh hướng chú ý rất nhiều đến phần &#8220;công nghệ&#8221;, nghĩa là phần &#8220;kỹ thuật&#8221; của thiền định. Tuy]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h3 class="tt-detail">Khi bạn đọc các sách về thiền định, hoặc khi thiền định được trình bày bởi các nhóm khác nhau, đa số mọi người nhấn mạnh về phần kỹ thuật. Ở phương Tây, người ta có khuynh hướng chú ý rất nhiều đến phần &#8220;công nghệ&#8221;, nghĩa là phần &#8220;kỹ thuật&#8221; của thiền định.</h3>
<div class="f-detail">
<div style="text-align: center;"><a href="/images/post/2015/06/21/20//thien-dinh.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-288" src="/images/post/2015/06/21/20//thien-dinh.jpg" alt="thien-dinh" width="448" height="299" /></a></div>
<div style="text-align: justify;">
Tuy nhiên, cho đến nay, các đặc tính quan trọng nhất của thiền định không phải ở phần kỹ thuật, mà là phần tinh thần, là bản tính tự nhiên của con người, còn được gọi là &#8220;thái độ&#8221;, một thái độ mà không có liên hệ nhiều đến vật chất, tức là thân thể, nhưng lại có sự liên hệ đến phần tinh thần nhiều hơn, và thái độ của chính mình.</p>
<p>Thật là dễ dàng để thấy rằng, khi bạn bắt đầu thực hành thiền định, là bạn đang bước vào một khía cạnh hoàn toàn khác của thực tại. Thông thường trong cuộc sống, chúng ta đặt rất nhiều nỗ lực vào việc làm cho xong một chuyện gì, vì thế, nên có liên quan rất nhiều đến sự tranh đấu, trong khi thiền định thì ngược lại, đây là một sự dừng lại, từ việc làm bình thường của chúng ta.</p>
<p>Thiền đơn giản là một sự khảo sát về bản chất tự nhiên của con người, thiền là sự tan chảy, giống y hệt như đặt một miếng bơ dưới ánh nắng mặt trời. Chuyện nầy không liên hệ đến chuyện bạn &#8220;biết&#8221; hay &#8220;không biết&#8221; về thiền, thật thế, vì mỗi lần bạn thiền định, phải là một lần mới toanh, giống như thể đây là lần đầu tiên bạn bắt đầu thiền định. Bạn chỉ ngồi yên lặng lẽ, thân thể không di động, bạn im lặng, không nói năng, tâm trí bạn thoải mái, bạn cho phép những ý nghĩ đến và đi, tuy nhiên, không để cho những ý nghĩ nầy phá phách bạn.</p>
<p>Nếu bạn cần làm một chuyện gì, thì bạn chỉ cần theo dõi hơi thở. Đây là một quá trình rất đơn giản. Khi bạn thở ra, bạn biết rằng bạn đang thở ra. Khi bạn thở vào, bạn biết rằng bạn đang thở vào, bạn không thêm thắt bất cứ lời phê bình nào, hoặc bạn không tự mình nói chuyện tầm phào trong tâm trí, mà chỉ cần chú ý đến hơi thở. Đây là quá trình rất đơn giản của sự chánh niệm, đang làm việc với những suy nghĩ và với những cảm xúc của bạn, rồi sau đó, y hệt như bạn có một làn da già chết, bị tróc ra, chúng rơi rụng xuống, và tự do.</p>
<p>Người ta thường có khuynh hướng thư giãn cơ thể, bằng cách tập trung vào các bộ phận khác nhau. Sự thư giãn đúng đắn nhất, xảy ra khi bạn thư giãn từ bên trong tâm bạn, rồi sau đó tất cả mọi thứ khác, chúng sẽ tự thư giãn một cách dễ dàng và tự nhiên.</p>
<p>Khi bạn bắt đầu thực hành, bạn tự tập trung, rồi giữ liên lạc với &#8220;nơi chốn dễ chịu&#8221; của bạn, và hãy ở tại chỗ đó. Vào lúc ban đầu, bạn không cần tập trung vào bất cứ chuyện gì đặc biệt. Chính bạn hãy là một không gian rộng lớn, và cho phép những ý nghĩ và cảm xúc của bạn tự giải quyết. Nếu bạn làm như vậy, sau đó, khi bạn sử dụng một phương pháp như theo dõi hơi thở, sự chú ý của bạn vào hơi thở sẽ dễ dàng hơn. Không có điểm đặc biệt nào trên hơi thở, mà bạn cần phải tập trung, đây chỉ là quá trình đơn giản về hơi thở.</p>
<p>Hai mươi lăm phần trăm sự chú ý của bạn ở trên hơi thở, và bảy mươi lăm phần trăm là ở sự thoải mái. Hãy cố gắng hòa nhập trọn vẹn vào hơi thở, chứ không phải chỉ theo dõi hơi thở. Bạn có thể chọn một đối tượng, để tập trung vào, thí dụ như một bông hoa. Đôi khi bạn được giảng dạy, hãy hình dung về ánh sáng trên trán, hoặc trong tim. Đôi khi một âm thanh, hoặc một câu thần chú được sử dụng. Nhưng vào lúc ban đầu, chuyện tốt nhất bạn đơn giản chỉ là một không gian rộng lớn, như bầu trời. Hãy nghĩ bạn là bầu trời, trong đó có tất cả vũ trụ.</p>
<p>Khi bạn ngồi, bạn hãy để mọi chuyện ổn định và cho phép con-người chống-đối của bạn, con-người mà không-thành-thật, con-người mà có-bản-chất-không-tự-nhiên, tự chúng tiêu tan, và biến mất, rồi bạn sẽ nhìn thấy con người thật sự của bạn rõ ràng hơn. Bạn sẽ hiểu biết thêm về một khía cạnh mới của chính bạn, một con người thật sự, với cội nguồn là sự thành thật, không giả dối. Khi bạn thiền định sâu hơn, bạn bắt đầu khám phá và kết nối với lòng nhân đạo căn bản của bạn.</p>
<p>Điểm chính yếu của thiền định là để làm quen với khía cạnh nói trên, mà bạn đã lãng quên đi. Trong tiếng Tây Tạng &#8220;thiền&#8221; có nghĩa là &#8220;để làm quen&#8221;. Làm quen với điều gì? làm quen với bản chất thật sự của bạn, Phật Tính của bạn. Đây là lý do tại sao, trong việc giảng dạy cao nhất của Phật giáo, Dzogchen, bạn được nghe nói đến &#8220;hãy nghỉ ngơi, ở trong bản chất của tâm&#8221;. Bạn chỉ cần ngồi yên lặng lẽ, và để cho tất cả những ý nghĩ và khái niệm tự tan biến. Cũng giống như khi mây tan biến đi, hoặc khi sương mù bốc hơi, sẽ để lộ ra bầu trời trong sáng, chan hòa trong ánh nắng mặt trời.</p>
<p>Khi mọi chuyện tan biến như thế, bạn bắt đầu hiểu biết bản chất thật sự của bạn, rồi bạn &#8220;sống&#8221; với bản chất nầy. Sau khi bạn biết được điều nầy, vào lúc đó, bạn cảm thấy tuyệt vời. Nó không giống bất kỳ cảm giác tốt đẹp nào khác, mà bạn có thể đã có kinh nghiệm. Đây là một chuyện tốt đẹp thật sự và chân thành, vì khi đó bạn hiểu biết ý nghĩa sâu sắc của sự bình an, của sự hạnh phúc và sự tự tin vào chính mình.</p>
<p>Bạn sẽ thiền định tốt hơn, khi bạn có nguồn cảm hứng. Buổi sáng sớm có thể mang đến nguồn cảm hứng, vì buổi sáng sớm là giờ phút tốt đẹp nhất của tâm, khi tâm bình yên hơn và tươi đẹp hơn (thời gian được đề nghị theo truyền thống là vào lúc trước khi bình minh). Khi bạn đang có nguồn cảm hứng, thì đây là lúc thích hợp để ngồi thiền, bởi vì bạn cảm thấy dễ dàng hơn, khi tâm bạn đang ở trong trạng thái tốt đẹp cho việc thiền định, nguồn cảm hứng nầy còn làm cho bạn cảm thấy phấn khởi hơn, khi bạn thực hành thiền định.</p>
<p>Điều này sẽ mang lại cho bạn nhiều sự tự tin trong việc thực hành, để sau này lúc bạn không có nguồn cảm hứng, bạn vẫn sẽ tiếp tục thực hành thiền định. Chúng ta không cần phải ngồi thiền thật lâu: bạn chỉ cần ngồi yên lặng lẽ, cho đến khi bạn bắt đầu mở lòng ra, rồi sau đó kết nối với bản chất tốt đẹp của trái tim bạn. Đây là điểm chính yếu.</p>
<p>Sau đó, bạn sẽ có sự hội nhập, nghĩa là bạn thiền định trong hành động. Khi chánh niệm của bạn đã được đánh thức bởi thiền định, tâm của bạn sẽ bình yên, và nhận thức của bạn sẽ hợp lý và đáng tin cậy hơn. Sau đó, bất cứ chuyện gì bạn làm, thì bạn có mặt, ngay trong thời điểm đó. Như câu nói nổi tiếng của một vị Thiền Sư: &#8220;Khi tôi ăn, tôi ăn; khi tôi ngủ, tôi ngủ&#8221;.</p>
<p>Bất cứ chuyện gì bạn làm, bạn hoàn toàn có mặt, trong việc bạn đang làm. Ngay cả khi bạn đang rửa bát, nếu bạn làm việc nhất tâm, bạn sẽ thấy nạp thêm năng lượng, bạn có sự tự do, và bạn có sự tinh khiết. Bạn cảm thấy bình yên hơn, vì thế, bạn cảm thấy tâm bạn rộng lớn hơn. Lúc đó, bạn có &#8220;Tâm Rộng Lớn Như Thế Giới&#8221;.</p>
<p>Một trong những điểm cơ bản của cuộc hành trình tâm linh là lòng kiên nhẫn đi theo một con đường. Mặc dù chuyện thiền định của bạn có thể tốt đẹp vào ngày hôm nay, và không tốt đẹp vào ngày mai, giống y hệt như chuyện phong cảnh luôn thay đổi, vấn đề căn bản ở đây không phải ngồi cộng điểm làm tốt hoặc điểm làm xấu, mà thật ra, là khi bạn kiên nhẫn, thực hành đúng đắn, thì sự thực hành thiền định chà xát trên con người bạn, và làm rơi rụng cả chuyện tốt lẫn chuyện xấu.</p>
<p>Chuyện tốt và chuyện xấu chỉ đơn giản xuất hiện, giống như là thời tiết tốt, hoặc thời tiết xấu, nhưng bầu trời luôn luôn không-thay-đổi. Nếu bạn kiên nhẫn, và có thái độ rộng lớn giống như bầu trời, và nếu bạn không bị bối rối bởi những cảm xúc và kinh nghiệm, tâm bạn sẽ phát triển trong sự ổn định, rồi bạn sẽ hiểu biết sự rộng lớn và chiều sâu thật sự của thiền định, khi bắt đầu có hiệu lực. Cho dù bạn không chú ý, bạn sẽ thấy, thái độ của bạn sẽ từ từ thay đổi. Bạn sẽ không còn khăng khăng giữ lấy mọi chuyện kiên cố như trước đây, hoặc bạn không còn nắm giữ lấy mọi chuyện thật chặt chẽ, và mặc dù chuyện khủng hoảng vẫn còn xảy ra cho bạn, nhưng nay bạn có thể giải quyết chúng dễ dàng hơn, trong một tinh thần hài hước.<br />
Thậm chí, bạn có thể sẽ mỉm cười vào những chuyện khó khăn, bởi vì giữa những chuyện nầy và bạn, nay đã có một khoảng cách rộng lớn hơn, làm bạn tự cảm thấy mình có nhiều tự do hơn trước. Mọi chuyện trở nên ít chắc chắn, không còn cứng rắn như đá, có vẻ hơi vô lý, có vẻ hơi buồn cười, và làm bạn trở nên vui vẻ hơn.</p></div>
<div style="text-align: right;">
<strong><span style="color: #006400;"><span style="font-size: 12px;">Tác Giả: Sogyal Rinpoche<br />
Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến</span></span></strong><br />
<strong><span style="color: #006400;"><span style="font-size: 12px;">Source-Nguồn: buddhanet.net<br />
(Advice On Meditation &#8211; By Sogyal Rinpoche)</span></span></strong></div>
<div style="text-align: justify;">
<span style="color: #008000;"><strong>Advice On Meditation </strong></span></p>
<p>When you read books about meditation, or often when meditation it is presented by different groups, much of the emphasis falls on the techniques. In the West, people tend to be very interested in the &#8220;technology&#8221; of meditation. However, by far the most important feature of meditation is not technique, but the way of being, the spirit, which is called the &#8220;posture&#8221;, a posture which is not so much physical, but more to do with spirit or attitude.</p>
<p>It is well to recognize that when you start on a meditation practice, you are entering a totally different dimension of reality. Normally in life we put a great deal of effort into achieving things, and there is a lot of struggle involved, whereas meditation is just the opposite, it is a break from how we normally operate.</p>
<p>Meditation is simply a question of being, of melting, like a piece of butter left in the sun. It has nothing to do with whether or not you &#8220;know&#8221; anything about it, in fact, each time you practice meditation it should be fresh, as if it were happening for the very first time. You just quietly sit, your body still, your speech silent, your mind at ease, and allow thoughts to come and go, without letting them play havoc on you. If you need something to do, then watch the breathing.</p>
<p>This is a very simple process. When you are breathing out, know that you are breathing out. When you breath in, know that you are breathing in, without supplying any kind of extra commentary or internalized mental gossip, but just identifying with the breath. That very simple process of mindfulness processes your thoughts and emotions, and then, like an old skin being shed, something is peeled off and freed.</p>
<p>Usually people tend to relax the body by concentrating on different parts. Real relaxation comes when you relax from within, for then everything else will ease itself out quite naturally.</p>
<p>When you begin to practice, you center yourself, in touch with your &#8220;soft spot&#8221;, and just remain there. You need not focus on anything in particular to begin with. Just be spacious, and allow thoughts and emotions to settle. If you do so, then later, when you use a method such as watching the breath, your attention will more easily be on your breathing. There is no particular point on the breath on which you need to focus, it is simply the process of breathing.</p>
<p>Twenty-five percent of your attention is on the breath, and seventy-five percent is relaxed. Try to actually identify with the breathing, rather than just watching it. You may choose an object, like a flower, for example, to focus upon. Sometimes you are taught to visualize a light on the forehead, or in the heart. Sometimes a sound or a mantra can be used. But at the beginning it is best to simply be spacious, like the sky. Think of yourself as the sky, holding the whole universe.</p>
<p>When you sit, let things settle and allow all your discordant self with its ungenuineness and unnaturalness to dissolve, out of that rises your real being. You experience an aspect of yourself which is more genuine and more authentic-the &#8220;real&#8221; you. As you go deeper, you begin to discover and connect with your fundamental goodness.</p>
<p>The whole point of meditation is to get used to the that aspect which you have forgotten. In Tibetan &#8220;meditation&#8221; means &#8220;getting used to&#8221;. Getting used to what? to your true nature, your Buddha nature. This is why, in the highest teaching of Buddhism, Dzogchen, you are told to &#8220;rest in the nature of mind&#8221;. You just quietly sit and let all thoughts and concepts dissolve.</p>
<p>It is like when the clouds dissolve or the mist evaporates, to reveal the clear sky and the sun shining down. When everything dissolves like this, you begin to experience your true nature, to &#8220;live&#8221;. Then you know it, and at that moment, you feel really good. It is unlike any other feeling of well being that you might have experienced. This is a real and genuine goodness, in which you feel a deep sense of peace, contentment and confidence about yourself.</p>
<p>It is good to meditate when you feel inspired. Early mornings can bring that inspiration, as the best moments of the mind are early in the day, when the mind is calmer and fresher (the time traditionally recommended is before dawn). It is more appropriate to sit when you are inspired, for not only is it easier then as you are in a better frame of mind for meditation, but you will also be more encouraged by the very practice that you do. This in turn will bring more confidence in the practice, and later on you will be able to practice when you are not inspired. There is no need to meditate for a long time: just remain quietly until you are a little open and able to connect with your heart essence. That is the main point.</p>
<p>After that, some integration, or meditation in action. Once your mindfulness has been awakened by your meditation, your mind is calm and your perception a little more coherent. Then, whatever you do, you are present, right there. As in the famous Zen master&#8217;s saying: &#8220;When I eat, I eat; when I sleep, I sleep&#8221;. Whatever you do, you are fully present in the act. Even washing dishes, if it is done one-pointedly, can be very energizing, freeing, cleansing. You are more peaceful, so you are more &#8220;you&#8221;. You assume the &#8220;Universal You&#8221;.</p>
<p>One of the fundamental points of the spiritual journey is to persevere along the path. Though one&#8217;s meditation may be good one day and and not so good the next, like changes in scenery, essentially it is not the experiences, good or bad which count so much, but rather that when you persevere, the real practice rubs off on you and comes through both good and bad.</p>
<p>Good and bad are simply apparitions, just as there may be good or bad weather, yet the sky is always unchanging. If you persevere and have that sky like attitude of spaciousness, without being perturbed by emotions and experiences, you will develop stability and the real profoundness of meditation will take effect. You will find that gradually and almost unnoticed, your attitude begins to change.</p>
<p>You do not hold on to things as solidly as before, or grasp at them so strongly, and though crisis will still happen, you can handle them a bit better with more humor and ease. You will even be able to laugh at difficulties a little, since there is more space between you and them, and you are freer of yourself. Things become less solid, slightly ridiculous, and you become more lighthearted.</p></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://denchua.nhadatso.com/nhung-loi-khuyen-bo-ich-ve-thien-dinh.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những pháp tu căn bản cho các Phật tử</title>
		<link>http://denchua.nhadatso.com/nhung-phap-tu-can-ban-cho-cac-phat-tu.html</link>
		<comments>http://denchua.nhadatso.com/nhung-phap-tu-can-ban-cho-cac-phat-tu.html#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 21 Jun 2015 08:36:12 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phật Pháp]]></category>
		<category><![CDATA[hoc phat]]></category>
		<category><![CDATA[phap tu can ban cua phat tu]]></category>
		<category><![CDATA[phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[phat hoc]]></category>
		<category><![CDATA[phat phap]]></category>
		<category><![CDATA[thien phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[tin tuc phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[vuon hoa phat giao]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://denchua.nhadatso.com/?p=274</guid>
		<description><![CDATA[Ứng dụng Phật pháp ngay trong cuộc sống thực tế của chúng ta, để minh chứng rõ ràng đạo Phật cứu khổ thật sự, đạo Phật mang hạnh phúc cụ thể lại cho con người. Ðuợc thế, chúng ta mới khỏi hối hận là đệ tử của Phật mà làm nhục nhã cho đạo Phật.]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h3 class="tt-detail">Ứng dụng Phật pháp ngay trong cuộc sống thực tế của chúng ta, để minh chứng rõ ràng đạo Phật cứu khổ thật sự, đạo Phật mang hạnh phúc cụ thể lại cho con người. Ðuợc thế, chúng ta mới khỏi hối hận là đệ tử của Phật mà làm nhục nhã cho đạo Phật.</h3>
<div class="f-detail">
<div style="text-align: center;"><a href="/images/post/2015/06/21/20//phap-tu-can-ban-cua-phat-tu.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-285" src="/images/post/2015/06/21/20//phap-tu-can-ban-cua-phat-tu.jpg" alt="phap-tu-can-ban-cua-phat-tu" width="500" height="333" /></a></div>
<div style="text-align: justify;">
Ða số người xưng là Phật tử mà không biết rõ đường lối tu hành, ai bày sao làm vậy, trở thành mê tín sai lầm, khiến người đời phê bình đạo Phật là huyền hoặc, là vô ích. Ðể bổ cứu những sai lầm ấy, chúng ta phải biết rõ đâu là pháp tu căn bản phải hành, đâu là lối tu siêu thoát phải đến. Ứng dụng Phật pháp ngay trong cuộc sống thực tế của chúng ta, để minh chứng rõ ràng đạo Phật cứu khổ thật sự, đạo Phật mang hạnh phúc cụ thể lại cho con người. Ðuợc thế, chúng ta mới khỏi hối hận là đệ tử của Phật mà làm nhục nhã cho đạo Phật.</p>
<p><strong>PHÁP TU CĂN BẢN</strong></p>
<p>Bước đầu trên đường tu hành của người Phật tử, phải &#8220;<em>chuyển ba nghiệp ác thành ba nghiệp lành&#8221;</em>. Ba nghiệp là thân miệng ý của chúng ta. Khi xưa chưa biết tu, chúng ta buông lung thân miệng ý làm những việc xấu xa tàn bạo độc ác. Ðã tạo những điều xấu xa tàn bạo độc ác là làm đau khổ cho mình, cho người, cho gia đình, cho xã hội. Những kẻ cướp của giết người sớm muộn gì cũng ngồi khám, cha mẹ vợ con ở nhà đau khổ, gia đình của nạn nhân cũng khổ đau, chánh quyền cũng phải bận tâm điều tra truy nã. Chỉ một việc làm cuồng dại độc ác của một vài người, khiến guồng máy xã hội bị rối bời. Hành động ấy gọi là tạo nghiệp ác.</p>
<p>Ngày nay biết tu, chúng ta chuyển thân miệng ý làm việc tốt đẹp thanh cao hiền thiện. Thấy người trên đường bị tai nạn xe cộ, mà không có thân nhân, chúng ta thành thật xót thương, dùng lời hiền hòa an ủi, đích thân săn sóc chở đến bệnh viện&#8230; đây là tạo nghiệp lành. Làm được việc lành bản thân chúng ta đã vui, người bị tai nạn cũng bớt khổ, người chung quanh trông thấy cũng tán thành. Hành động lành này là cụ thể xây dựng xã hội tốt đẹp. Hành động xấu mà cứ lặp đi lặp lại mãi là nghiệp ác, vì đã thành thói quen khó sửa đổi.</p>
<p>Ví như người uống rượu, uống một vài lần không thành ghiền <em>(nghiện)</em>, ngày nay uống ngày mai uống, uống nhiều ngày như vậy thành người ghiền rượu. Cái ghiền là thói quen, gọi là nghiệp. Người thấy ai thiếu thốn liền giúp đỡ, lúc nào cũng thế, lâu ngày thành thói quen là nghiệp lành. Cũng là thói quen, một thói quen đưa đến đau khổ, một thói quen khiến đến an lạc. Vì thế, người Phật tử phải tránh thói quen đau khổ, phải tạo thói quen an lạc, đó là tu chuyển nghiệp ác thành nghiệp lành. Kẻ ngu muội mới tìm hạnh phúc trên đau khổ của người khác, người sáng suốt chỉ thấy hạnh phúc khi giúp người khác hết khổ.</p>
<p><strong>QUAN NIỆM SAI LẦM</strong></p>
<p>Có nhiều Phật tử phát tâm qui y chỉ vì cầu cho gia đình bình an, cuộc sống được mọi sự như ý. Vì thế, gia đình có người bệnh hoạn hay xảy ra tai nạn gì thì thỉnh thầy cầu an. Nếu thầy bận việc không đi thì phiền não, giận không đi chùa. Trong cuộc sống gặp nhiều điều bất như ý thì buồn, cho rằng Phật không hộ độ. Nghe miếu Bà, miếu Ông nào linh ứng liền đến đó cầu xin.</p>
<p>Chỉ vì mong được bình an mà đi chùa, đến với đạo, khi mục đích ấy không thành thì họ bỏ đạo dễ dàng. Lại có những người sau khi qui y rồi thì mọi việc đều giao phó cho thầy, cất nhà cũng thỉnh thầy coi ngày, gả cưới con cái cũng thỉnh thầy xem tuổi, đau ốm bệnh hoạn cũng thỉnh thầy cầu an, ma chay cũng thỉnh thầy cầu siêu. Thầy là người chịu mọi trọng trách trong gia đình, nếu thầy không chiều theo là buồn, không đi chùa. Lối qui y này, giống hệt đi đóng tiền bảo hiểm cho cá nhân và gia đình vậy.</p>
<p>Lại có những người tu một cách hời hợt, chỉ biết giờ tụng kinh, giờ niệm Phật, ngày ăn chay là tu. Ngoài những giờ đó ra, mọi việc đều như ai, ăn miếng trả miếng không thua kém. Một ngày mười hai giờ, chúng ta chỉ tu có một hai giờ, làm sao đủ? Mười giờ tạo ác, hai giờ tu thiện thì quá ít oi. Hoặc một tháng ăn sáu ngày chay, chỉ tu trong sáu ngày này, còn hai mươi bốn ngày kia không tu thì có thấm vào đâu. Có khi ai lỡ xúc phạm đến họ trong những ngày chay, họ sẽ nói <em>&#8220;hôm nay tôi ăn chay, nếu không ăn chay thì biết!&#8221;</em> Tu như thế, quả thật rất hời hợt.</p>
<p>Còn tệ hại hơn, có người sợ tu thiền đổ nghiệp. Mỗi khi phát nguyện tụng kinh Pháp Hoa chẳng hạn, ở gia đình có xảy ra tai biến gì, liền đổ thừa tại tụng kinh đổ nghiệp. Không biết đổ nghiệp là rơi rớt hết hay sanh ra nghiệp? Nếu đổ nghiệp là rơi rớt hết thì cố gắng tụng cho nó rớt sạch luôn. Nếu đổ nghiệp là sanh ra nghiệp thì điều này thật là vô lý. Vì giờ tụng kinh thì ba nghiệp thanh tịnh &#8211; thân nghiêm trang là thân nghiệp thanh tịnh miệng tụng lời Phật là khẩu nghiệp thanh tịnh &#8211; ý duyên theo lời kinh là ý nghiệp thanh tịnh &#8211; làm sao sanh ra ác nghiệp được? Tin như thế thật là hoàn toàn vô căn cứ. Người Phật tử phải sáng suốt không nên tin theo lối nhảm nhí ấy.</p>
<p><strong>TU LÀ TUYÊN CHIẾN VỚI MA QUÂN</strong></p>
<p>Người phát tâm tu hành như một chiến sĩ tuyên chiến với ma quân. Chúng ta phải hùng dũng quyết chiến. Trước tiên, chúng ta chiến đấu với bọn ma phiền não nghiệp chướng của mình. Ví như người vừa phát nguyện tu hạnh nhẫn nhục, liền bị người thóa mạ, tâm sân hận nổi lên, ngay đây phải dẹp bỏ, đè bẹp nó là thắng, để nó phát hiện ra miệng, ra thân là thua.</p>
<p>Có người trước đã ghiền<em> (nghiện)</em> rượu, nay phát tâm qui y thọ trì năm giới ngang đây phải bỏ <em>(cai)</em> rượu, nếu can đảm bỏ được là thắng, bỏ không được là thua. Thắng được cơn giận dữ nổi lên là thắng ma phiền não, thắng được bệnh ghiền lâu năm là thắng ma nghiệp chướng. Phiền não nghiệp chướng của chúng ta rất nhiều rất nặng, chiến thắng được nó phải là một dũng sĩ kiên cường. Hai thứ này là nội ma.</p>
<p>Những khó khăn chướng ngại do ngoại cảnh gây nên là ngoại ma. Một người tuổi độ ba mươi, đã có gia đình, vừa thọ ngũ giới xong, liền có một người đẹp đeo đuổi mến yêu. Chiến thắng tình cảm bất hợp pháp này là một trận chiến gay go, nếu đương sự không can đảm quyết liệt, khó mà giữ toàn vẹn được giới thứ ba đã thọ.</p>
<p>Một người khác sau khi qui y thọ giới rồi, nguyện bỏ <em>(cai)</em> rượu, trong lúc tranh đấu một mất một còn với con ma ghiền, lại gặp bạn bè mời đi nhậu, còn dùng nhiều thủ thuật bắt ép, trường hợp này không phải là người có ý chí kiên cường thì khó mà thắng được, ngoại cảnh chướng ngại nhiều khó thể kể hết, người Phật tử hùng dũng quyết thắng, đừng để giặc ngoại ma áp đảo phải đầu hàng.</p>
<p>Ðã là chiến đấu thì phải đương đầu, vì vậy chúng ta không thể khiếp nhược yếu hèn chỉ một bề cầu được bình an. Người chiến sĩ có đối đầu với giặc, chiến thắng được giặc, mới thăng quan tiến chức, mới có ngày ca khúc khải hoàn, quàng vòng hoa danh dự vào cổ. Người tu cũng vậy, chiến thắng được nội ma, ngoại ma, mới có ngày bước lên đài vinh quang của con người vẹn toàn đức hạnh.</p>
<p>Ðã là chiến sĩ thì mắt phải sáng, tai phải thính luôn luôn theo dõi mọi hành động của kẻ thù. Một phút giây hời hợt sơ suất có thể tán thân mất mạng. Người tu cũng thế, phải thấy rõ từng tâm niệm, từng hành động của mình, một phút giây lơi lỏng, bọn giặc phiền não nổi dậy, phải bị mất giới thân tuệ mạng. Do đó, không thể chỉ tu trong giờ tụng kinh, niệm Phật, ăn chay mà phải tu trong mọi lúc mọi giờ. Ðược vậy mới mong chiến thắng bọn ma quân.</p>
<p>Tu là dẹp bỏ những thói hư tật xấu, tuổi trẻ chưa tập nhiễm những cái dở ấy, ngang đây biết tu thì dễ biết dường nào. Người chưa biết uống rượu, không tập uống rượu thật là dễ. Người đã ghiền rượu, bỏ không uống rượu là thiên nan vạn nan. Biết tu từ thuở nhỏ thì thuận lợi dễ dàng biết mấy, để đa mang nhiều bệnh nhiều tật rồi mới tu, thật là khó khăn trăm bề. Song người có ý chí mãnh liệt thì cái khó nào cũng làm được.</p>
<p><strong>CỤ THỂ HÓA PHÁP TU CĂN BẢN</strong></p>
<p>Ðể cụ thể hóa pháp tu căn bản này, đức Phật bắt buộc người Phật tử sau khi qui y Tam Bảo phải thọ trì năm giới. Trong năm giới ba giới đầu là giữ thân không tạo nghiệp ác, hai giới sau giữ khẩu không tạo nghiệp ác. Thế là, người Phật tử chỉ mới chuyển hai nghiệp. Chuyển hai nghiệp thôi, mà công hiệu lợi ích đã to lớn lắm rồi. Như người không sát sanh, là không giết người <em>(chỉ trừ trường hợp nghĩa vụ quân sự),</em> không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, bản thân họ đã là một con người tốt. Họ lại giảm được bao nhiêu việc lo âu sợ sệt tốn hao trong cuộc sống hiện tại. Cha mẹ anh em vợ chồng con cái nhờ đó được an ổn vui tươi. Mọi người trong xã hội khỏi phải phiền hà lo âu vì họ.</p>
<p>Chúng ta có thể hình dung trong một xóm, mà mọi người đều giữ năm giới hết, trong xóm đó có xảy ra chuyện giết hại, trộm cướp, lừa đảo, hiếp dâm và say sưa phá làng phá xóm không? Chắc hẳn là không, trừ phi những kẻ khác xâm nhập vào.</p>
<p>Chúng ta hiện nay đi đâu cũng lo âu sợ sệt là tại sao? Phải chăng, vì sợ người hãm hại, sợ người móc túi giựt đồ, sợ người lường gạt&#8230; Chánh quyền phải bận tâm nhọc sức điều tra theo dõi, vì dân chúng không biết tu. Nếu người dân biết tu và chịu tu như vậy, chánh quyền sẽ thảnh thơi nhàn rỗi biết chừng nào. Bởi vì con người ai cũng có sẵn những thói xấu, nếu không cấm đoán hạn chế, nó sẽ tạo ra lắm chuyện xấu xa hèn hạ khổ đau cho nhau. Vì lòng từ bi, đức Phật như bắt buộc các đệ tử của Ngài phải tuân theo những điều cấm đoán, nhờ đó sẽ dẹp bớt những thói xấu, nết tốt dần dần tăng trưởng, khổ đau sẽ tiêu mòn, an vui thêm lớn. Ðây là chủ đích cứu khổ của đạo Phật.</p>
<p>Ðể thành một con người hoàn hảo hơn, Phật dạy phải tu thập thiện. Pháp Thập thiện mới thật sự đầy đủ tu chuyển ba nghiệp. Chuyển ba nghiệp ác của thân, không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm. Chuyển bốn nghiệp ác của khẩu: không nói dối, không nói lật lọng<em> (ly gián),</em> không nói hung ác, không nói vô nghĩa <em>(thêu dệt)</em>, chuyển ba nghiệp ác của ý: bớt tham, bớt sân, không tà kiến <em>(chấp lệch, sai)</em>. Mười điều lành này xây dựng một con người toàn hảo.</p>
<p>Chúng ta phân tích từ tế đến thô sẽ thấy pháp Thập thiện công hiệu không thể kể hết. Một con người không bị tham lam xúi giục thì sẽ làm chủ mình trước mọi thứ cám dỗ của trần gian. Tài sắc danh lợi không lung lạc được, người này mới hoàn toàn thanh bạch cao thượng. Không bị nóng giận áp đảo, chúng ta mới bình tĩnh sáng suốt giải quyết mọi vấn đề. Làm chủ được nóng giận, chúng ta không nói lời thô ác, không có hành động tàn nhẫn. Ðời chúng ta không bị hối hận bao giờ, người thân chúng ta không hề chán ghét. Sự việc xảy đến, giải quyết một cách sáng suốt khôn ngoan chúng ta mới đủ khả năng đảm đang việc lớn được.</p>
<p>Mọi lý thuyết, mọi vấn đề, chúng ta không thấy một chiều, không nhìn phiến diện, quần chúng mới dễ cảm thông, mới thật lòng yêu mến. Tà kiến là cái thấy lệch lạc, thấy sai lầm cục bộ, dễ sanh tranh cãi, dễ sanh oán hờn. Không tà kiến là một tâm hồn cởi mở, bao dung, suốt thông, trong sáng. Không tà kiến, chúng ta hòa hợp được mọi người, mọi chánh kiến khác nhau.</p>
<p>Cuộc sống hạnh phúc hay khổ đau, nẩy mầm từ thông cảm nhau hay chống đối nhau. Không tà kiến mà lại có chánh kiến, thật hạnh phúc thay cho kiếp con người. Thân khẩu trở thành hay hoặc dở đều phát nguồn từ ý tốt hay xấu. Sở dĩ Thập thiện xây dựng con người hoàn hảo là chú trọng đến ý nghiệp. Pháp ngũ giới mới chuyển hóa hai phần nổi, thân khẩu mà thôi. Bởi vậy Phật tử chúng ta không phải chỉ dừng ở ngũ giới mà phải tiến lên Thập thiện mới thật đầy đủ.</p>
<p><strong>TU CHUYỂN BA NGHIỆP LÀ CĂN BẢN PHẬT PHÁP</strong></p>
<p>Ðời Ðường ở Trung Hoa, có một thiền sư thấy trên cây có chỗ thuận tiện ngồi tu được, ông liền gác cây bẻ nhánh lót thành chỗ ngồi, giống như ổ quạ và ngồi đó tu. Thời gian sau, ông ngộ đạo tại đây, dân chúng gọi Ngài là Ô Sào Thiền sư <em>(Thiền sư ngồi trong ổ quạ).</em> Ông Bạch Cư Dị, nhà văn nổi tiếng thời ấy, được cử làm quan ở huyện này, nghe danh tiếng Thiền sư Ô Sào, ông liền đến hỏi đạo.</p>
<p>Khi gặp nhau, ông hỏi nhiều câu, câu chót: <em>&#8220;Thế nào là đại ý Phật pháp?</em>&#8221; Thiền sư Ô Sào ngồi trên ổ quạ đáp: <em>&#8220;Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo.&#8221; (chớ tạo các điều ác, vâng làm mọi việc lành, giữ tâm ý trong sạch, đây lời dạy chư Phật.) </em>Ông Bạch Cư Dị cười thưa: <em>&#8220;Bài kệ Ngài dạy, con nít tám tuổi cũng thuộc rồi.&#8221; </em>Thiền sư bảo:<em> &#8220;Phải, con nít tám tuổi cũng thuộc, song ông già tám mươi làm chưa xong.&#8221; </em>Bạch Cư Dị đảnh lễ rồi lui về.</p>
<p>Qua câu chuyện này, chúng ta thấy cốt yếu của đạo Phật là dạy Phật tử phải chuyển ba nghiệp ác thành ba nghiệp thiện. &#8220;<em>Chớ tạo các điều ác&#8221;</em> là dừng ba nghiệp ác. <em>&#8220;Vâng làm mọi việc lành&#8221;</em> là tu ba nghiệp lành. <em>&#8220;Giữ tâm ý thanh tịnh&#8221;</em> phải chú tâm nhiều về ý nghiệp. Ý nghiệp thanh tịnh thì thân khẩu mới tốt, mới thanh tịnh. Ý nghiệp là chủ động, nên dành riêng một câu để thấy tầm vóc quan trọng của nó. Dạy tu chuyển ba nghiệp thanh tịnh này, không phải chỉ riêng Phật Thích-ca dạy mà chư Phật đều dạy như thế, <em>&#8220;đây lời dạy chư Phật&#8221;.</em></p>
<p>Còn một điểm quan trọng chúng ta phải chú ý, Bạch Cư Dị nghe bài kệ này thấy dễ nhớ dễ hiểu nên xem thường bảo rằng <em>&#8220;con nít tám tuổi cũng thuộc&#8221;. </em>Thiền sư giáng cho ông một đòn đau điếng bằng câu, <em>&#8220;con nít tám tuổi cũng thuộc, song ông già tám mươi làm chưa xong&#8221;</em>. Ðạo là để hành để tu chớ không phải hiểu nhớ suông. Nếu hỏi đạo để hiểu nhớ, chỉ là việc đùa cợt vô ích. Ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống, mới thấy hữu ích thật sự.</p>
<p>Dầu một thứ thuốc hay đến đâu, nếu người ta chỉ biết tên, đọc nhãn hiệu, nghiên cứu công thức, mà không chịu uống thì con bệnh không bao giờ lành. Phật tử chịu thực hành lời Phật dạy, như con bệnh chịu uống thuốc, mọi bệnh khổ không còn đeo bám chúng ta. Học Phật pháp để hiểu để nói, như người khoe ăn nhiều thứ bánh vẽ, mà bụng vẫn đói. Người học đạo để hành, để tu mới thật chân chánh Phật tử.</p>
<p>Kết thúc bài này, chúng ta thấy trọng tâm chủ yếu đạo Phật dạy <em>&#8220;chuyển hóa ba nghiệp ác thành ba nghiệp thiện&#8221;</em>, là căn bản bước đầu không thể thiếu, ở mỗi người Phật tử. Mỗi người hoàn thiện thì xã hội mới toàn mỹ. Chúng ta tu chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện là tự mình thẳng tiến trên bước đường đạo đức, đóng góp sự vui tươi an lạc cho gia đình mình, xây dựng hoàn hảo cho xã hội văn minh.</p>
<p>Văn minh ở đây là văn minh đạo đức, văn minh của tình thương chia ngọt sẻ bùi, văn minh của những con người thanh bai cao thượng. Cho nên trong kinh Thập thiện nói người tu Thập thiện sẽ được sanh lên cõi trời, gọi là Thiên thừa Phật giáo. Song với chúng tôi, người tu Thập thiện là con người hoàn hảo, trong xã hội có đa số người tu Thập thiện là xã hội văn minh hoàn hảo. Ðây là Phật pháp giáo hóa dân gian.</p></div>
<div style="text-align: right;"><span style="color: #008000;"><span style="font-size: 12px;">Hòa thượng Thích Thanh Từ</span></span></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://denchua.nhadatso.com/nhung-phap-tu-can-ban-cho-cac-phat-tu.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đây rồi, con đường đi đến Phật đạo</title>
		<link>http://denchua.nhadatso.com/day-roi-con-duong-di-den-phat-dao.html</link>
		<comments>http://denchua.nhadatso.com/day-roi-con-duong-di-den-phat-dao.html#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 21 Jun 2015 08:36:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phật Pháp]]></category>
		<category><![CDATA[hoc phat]]></category>
		<category><![CDATA[phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[phat hoc]]></category>
		<category><![CDATA[phat phap]]></category>
		<category><![CDATA[thien phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[tin tuc phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[vuon hoa phat giao]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://denchua.nhadatso.com/?p=271</guid>
		<description><![CDATA[Ra đồng cuốc đất, giở cuốc lên cuốc xuống, làm mệt đứng chống cuốc thở, ngó trời ngó mây chơi. Còn mình ngồi đó, một giờ hai giờ có dám nghỉ đâu. Lúc nào cũng phải dòm chừng, hết chú này tới chú khác trồi lên liên miên. Một hai giờ đồng hồ không nghỉ]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h3 class="tt-detail">Ra đồng cuốc đất, giở cuốc lên cuốc xuống, làm mệt đứng chống cuốc thở, ngó trời ngó mây chơi. Còn mình ngồi đó, một giờ hai giờ có dám nghỉ đâu. Lúc nào cũng phải dòm chừng, hết chú này tới chú khác trồi lên liên miên. Một hai giờ đồng hồ không nghỉ chút nào hết.</h3>
<div class="f-detail">
<div style="text-align: center;"><a href="/images/post/2015/06/21/20//con-duong-di-den-phat.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-282" src="/images/post/2015/06/21/20//con-duong-di-den-phat.jpg" alt="con-duong-di-den-phat" width="600" height="402" /></a></div>
<div style="text-align: justify;">
Như vậy người tu mới nhìn qua thấy thảnh thơi, ngồi lim dim đó mà thực là đổ mồ hôi hột, không chút rảnh rỗi, nhàn hạ. Bởi vì chúng ta quen nhìn sự vật bên ngoài theo lối hình thức phân biệt tướng mạo, vì vậy cái gì có hình tướng, có phân biệt thì chúng ta hiểu nhận, còn cái gì không hình tướng, chúng ta lại không biết. Ai cũng nói tâm là cái biết, là phần tinh thần của mình.</p>
<p>Như vậy khi khởi nghĩ phân biệt hơn thua, phải quấy, tốt xấu là chân hay giả? Khi vọng tưởng thứ nhất lặng, chừng một giây hay hai giây vọng tưởng thứ hai dấy lên, thì khoảng trống giữa cái thứ nhất với cái thứ hai đó, chúng ta hữu tri hay vô tri? Hữu tri tức là có tâm. Vọng tưởng dấy lên thì có suy nghĩ, cái suy nghĩ đó là động. Mỗi một niệm dấy lên là động, động là tướng sinh diệt. Khi nó lặng, khoảng giữa này không dài, nhưng vẫn có một khoảng giữa trước khi niệm thứ hai dấy lên. Khoảng giữa đó, nếu không có tri thì niệm thứ hai dấy lên mình không thấy. Nhưng niệm thứ hai vừa trồi đầu lên, mình thấy liền, như vậy trong khoảng giữa đó có tri hay vô tri? Có tri. Cái tri của khoảng giữa đó là cái tri bất sinh bất diệt.</p>
<p>Khi chúng ta khởi nghĩ nhớ ba, nhớ má, thì hình bóng ba má hiện ra. Ta liền nói “vọng, buông!”. Buông thì nó lặng xuống, im lìm được một chút lại dấy lên nhớ chú, nhớ bác. Khi đó hình dáng chú, bác hiện ra. Như vậy khoảng giữa của hai niệm là cái biết không sinh diệt.</p>
<p>Như vậy ngồi thiền hai tiếng đồng hồ, giả sử có hai trăm lần vọng tưởng, mất đi một tiếng đồng hồ, còn lại một tiếng lặng lẽ, quý vị đang làm gì, ở đâu? Chỗ này phải nhìn cho thật sâu mới thấy hết giá trị của nó. Trong hai trăm lần vọng tưởng mất một giờ động, nhưng cũng có một giờ tịnh, phải không??</p>
<p>Một giờ tịnh là không mê. Vừa dấy niệm chúng ta liền thấy, đó là yên tịnh trong cái rõ ràng thường biết. Góp lại từng chặng từng chặng rõ ràng thường biết đó được một giờ, như vậy buổi ngồi thiền đó hữu ích hay vô ích? Tối thiểu chúng ta cũng được một giờ yên tịnh.</p>
<p>Vậy mà chúng ta cứ nhớ hai trăm lần vọng tưởng, bỏ quên cái khoảng lặng quý giá đó, nên cho rằng mình tu sao chỉ thấy toàn vọng tưởng, không được thanh tịnh giây phút nào.</p>
<p>Người mới tu mà muốn được rỗng rang, sạch làu làu, không còn gì hết sao được. Phải chia chớ! Chia cho vọng một chút phần. Tu là đang dành khoảng yên lặng nhiều vọng tưởng ít, đi từ từ như vậy. Ngày xưa Tổ Huệ Khả than với Tổ Bồ-đề-đạt-ma:</p>
<p>- Tâm con không an, nhờ Hòa thượng dạy pháp an tâm.</p>
<p>Tổ Bồ-đề đạt-ma bảo:</p>
<p>- Đem tâm ra ta an cho.</p>
<p>Ngài Huệ Khả sực tìm. Lúc trước, Ngài nhớ nó chạy lăng xăng hoài sao bây giờ dòm lại mất tiêu. Khi đó, Ngài bạch với Tổ rằng:</p>
<p>- Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được.</p>
<p>Tổ Đạt-ma bảo:</p>
<p>- Ta đã an tâm cho ngươi rồi.</p>
<p>Ngay đó Tổ Huệ Khả nhận ra, biết được đường vào. Biết được đường vào, nhưng phải trải qua thời gian khá dài tu tập.</p>
<p>Một hôm, Tổ Huệ Khả thưa:</p>
<p>- Bạch Hòa thượng, hiện nay con bặt hết các duyên.</p>
<p>Tổ Đạt-ma bảo:</p>
<p>- Coi chừng rơi vào không.</p>
<p>Ngài nói:</p>
<p>- Rõ ràng thường biết, làm sao không được.</p>
<p>Tổ Đạt-ma liền nói:</p>
<p>- Ông như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế.</p>
<p>Nghĩa là sao? Nghĩa là bặt hết các duyên mà rõ ràng thường biết thì ông được như vậy, ta được như vậy, chư Phật cũng được như vậy. Chư Phật được như vậy nên các Ngài thành Phật. Bây giờ ta được như vậy rồi ta cũng sẽ thành Phật, ông được như vậy ông cũng sẽ thành Phật.</p>
<p>Trên đường tu, nhiều khi chúng ta mắc kẹt ở ngôn ngữ văn tự, mà không thấy được bản chất thực, giá trị thực của sự tu. Bây giờ phải thấy giá trị thực của nó. Chúng ta chỉ mới bặt được mười phần trăm, hai chục phần trăm hoặc năm chục phần trăm các duyên thôi.</p>
<p>Như vậy so với chư Tổ còn cách xa nhiều, tuy nhiên cũng có một hai phút bặt duyên. Chỗ bặt hết các duyên nhà thiền gọi là ông chủ, các duyên lăng xăng lộn xộn gọi là khách. Khách thì có hình dáng, chủ không có hình dáng. Bởi không hình dáng nên khó nhận, còn khách có hình dáng nên dễ nhận. Vì vậy suốt mấy giờ ngồi thiền, chúng ta chỉ thấy khách chớ không thấy chủ. Đó là vì mình sơ suất.</p>
<p>Niệm khởi là duyên, hết các duyên mà rõ ràng thường biết, đó chính là chỗ Tổ Bồ-đề-đạt-ma ấn chứng cho Tổ Huệ Khả. Ấn chứng bằng cách “<em>ông như thế, ta như thế</em>”, tức ta và ông không khác nhau. Chẳng những ông như thế, ta như thế, mà chư Phật cũng như thế luôn. Ba bốn con dấu giống hệt nhau. Đó là ấn chứng sâu đậm. Hiểu tới nơi rồi chúng ta mới thấy giá trị của sự tu.</p>
<p>Người không biết tu thì cảm thấy sự tu như vô ích. Năm ngoái ngồi cũng vọng tưởng, năm nay ngồi cũng vọng tưởng, chắc năm mười năm nữa cũng vọng tưởng! Tu như vậy buồn chết. Phải thấy năm ngoái trong một giờ bao nhiêu lần vọng tưởng, năm nay một giờ bao nhiêu lần vọng tưởng. Nó thưa từ từ. Thưa vọng tưởng từ từ, thì ông chủ hiện ngày càng rõ hơn. Vọng tưởng càng vắng, ông chủ càng hiện, chứ có thiếu chỗ nào.</p>
<p>Nên biết giờ ngồi thiền không phải thiệt thòi. Chẳng những giờ ngồi thiền thôi, cho tới giờ đi tưới hoa, nhổ cỏ, nấu cơm, lặt rau v.v… cũng biết rõ từng niệm khởi. Đó là chúng ta không thiếu ông chủ. Hiểu cho thật kỹ chúng ta mới thấy ý nghĩa, giá trị của người tu thiền.</p>
<p>Một số người cứ ngỡ rằng vào Niết-bàn là vào một cảnh giới rực rỡ, có đủ thứ tốt đẹp. Tưởng Niết-bàn như vậy là Niết-bàn tưởng tượng. Niết-bàn là vô sanh, vô sanh mà hằng tri hằng giác, chứ không phải vô sanh mà vô tri vô giác. Cái hằng tri hằng giác đó cũng gọi là Phật tánh.</p>
<p>Như vậy nhận được cái vô sanh hằng tri giác là nhập được Phật tánh của mình. Nếu nhập được Phật tánh của mình thì gọi là Phật. Chúng ta cứ mong thành Phật, được ngồi trên tòa sen có hào quang rực rỡ, nhưng không biết ông Phật đó là Phật sanh tử. Phật Pháp thân thì không có hình tướng.</p>
<p>Cho nên người biết tu sẽ được kết quả rất cụ thể, còn người không biết tu, hết nghĩ chuyện này đến chuyện nọ liên miên, nên không có kết quả. Trong khi cái biết thầm lặng luôn ở bên mình lại không hay, không nhớ tới. Do không nhận được cái hằng tri hằng giác thầm lặng ấy, nên chỉ nghĩ hơn nghĩ thua, nghĩ phải nghĩ quấy, cho đó là tâm.</p>
<p>Chấp giữ khư khư thân sinh diệt và tâm sinh diệt là mình thì trách gì không đi trong luân hồi sanh tử muôn kiếp. Bởi cho cái sinh diệt là mình nên vừa mất cái sinh diệt này liền ôm cái sinh diệt khác, cứ liên miên như vậy, chịu vô lượng khổ đau, không có ngày ra khỏi.</p>
<p>Nếu biết rõ thân này vô thường sinh diệt, tâm phân biệt hơn thua phải quấy cũng vô thường sinh diệt; chỉ có cái hằng tri hằng giác, không hình không tướng đó mới thật là mình, thì đâu còn chạy theo hay chấp giữ cái vô thường sanh diệt làm gì nữa. Ngay đây dừng lại tất cả vọng tưởng đảo điên, thân tâm an vui, tự tại. Đó chính là con đường đi đến Phật đạo.</p></div>
<div style="text-align: right;">
<span style="font-size: 12px;"><strong><span style="color: #008000;">Hòa thượng Thích Thanh Từ</span></strong></span></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://denchua.nhadatso.com/day-roi-con-duong-di-den-phat-dao.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chào mừng Ngài, Đức Phật nhập thế độ sanh</title>
		<link>http://denchua.nhadatso.com/chao-mung-ngai-duc-phat-nhap-the-do-sanh.html</link>
		<comments>http://denchua.nhadatso.com/chao-mung-ngai-duc-phat-nhap-the-do-sanh.html#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 21 Jun 2015 08:36:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phật Pháp]]></category>
		<category><![CDATA[duc phat nhap the do sanh]]></category>
		<category><![CDATA[hoc phat]]></category>
		<category><![CDATA[phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[phat hoc]]></category>
		<category><![CDATA[phat phap]]></category>
		<category><![CDATA[thien phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[tin tuc phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[vuon hoa phat giao]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://denchua.nhadatso.com/?p=272</guid>
		<description><![CDATA[Đức Phật thị hiện với nhân dáng hoàn mỹ và toàn bích, với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp không ai có thể sánh bằng. Nhờ có trí tuệ siêu việt, lòng từ bi nhân ái vượt thường, đời sống tu tập chuyển hoá, Ngài kết tinh bằng những đức tính]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h3 class="tt-detail">Đức Phật thị hiện với nhân dáng hoàn mỹ và toàn bích, với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp không ai có thể sánh bằng. Nhờ có trí tuệ siêu việt, lòng từ bi nhân ái vượt thường, đời sống tu tập chuyển hoá, Ngài kết tinh bằng những đức tính cao cả tôn quý nhất cả về thể chất lẫn tâm hồn nên chúng sanh xưng dương tán thán Ngài.</h3>
<div class="f-detail">
<div style="text-align: center;"><a href="/images/post/2015/06/21/20//duc-phat-nhap-the.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-283" src="/images/post/2015/06/21/20//duc-phat-nhap-the.jpg" alt="duc-phat-nhap-the" width="649" height="434" /></a></div>
<div style="text-align: justify;">
Cách đây hơn 26 thế kỷ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện tại xứ Ấn Độ cổ xưa, cội nguồn của nền văn minh sông Hằng. Sự kiện trọng đại Đức Thế Tôn thị hiện vào cõi đời này thật là hy hữu. Ngài đản sanh tại vườn Lâm Tỳ Ni, ngoại thành Ca Tỳ La Vệ, ngày nay là xứ Nepal. Sử sách Ấn Độ cho rằng một người ra đời với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, sau này xuất gia sẽ thành Phật, sẽ đem chánh pháp giáo hoá chúng sanh. Khi Đức Thế Tôn thị hiện đản sanh, tiên nhân A Tư Đà đoán rằng sau này Ngài sẽ trở thành Chuyển Luân Thánh Vương hoặc xuất gia sẽ thành Phật; còn ngài Kiều Trần Như cho rằng Đức Thế Tôn sau này chỉ thành Phật và điều ấy đã trở thành sự thật. Lịch sử của Đức Thế Tôn có tính siêu việt giống như đoá hoa Vô Ưu mấy ngàn năm mới nở một lần. Theo tục lệ Ấn Độ, người phụ nữ hoài thai sẽ trở về quê ngoại để sinh nở, Hoàng hậu Ma-Da sắp đến ngày nở nhụy khai hoa đến vườn Lâm Tỳ Ni gặp hoa Vô Ưu nở, đưa tay hái liền hạ sanh Thái tử Sĩ-Đạt-Ta.</p>
<p>Đức Phật nhập thế, thị hiện là một vị Đông cung thái tử trong cung vua Tịnh Phạn. Với hoàn cảnh y báo tại vương thành Ca Tỳ La Vệ, cha là vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Ma-Da, Ngài ở trên đỉnh cao địa vị và danh vọng nhưng chẳng đam mê lạc thú trần gian, quyết định ra đi tìm đạo, thành đạo, trao truyền chánh pháp đến cuối cuộc đời mới thể nhập Niết bàn tự tại. Trước khi xuất gia, Ngài dạo qua bốn cửa thành thấy cảnh già, bệnh, chết và một đạo sĩ. Từ đó, Ngài trầm tư về lẽ sống chết, về thân phận của kiếp người. Con người phải chịu đựng biết bao nỗi sầu, bi, khổ, ưu, não, mãi bươn chãi theo dòng đời xuôi ngược, cuối cùng đều từ giã cõi đời với hai bàn tay trắng. Người nghèo khổ lẫn giàu sang phú quý đều trải qua sinh, già, bệnh, chết. Với ý chí, trí tuệ phi thường và lòng từ bi vô hạn, Ngài cảm nhận sâu xa nỗi khổ niềm đau của nhân thế, từ bỏ mọi thụ hưởng, quyết định vượt thành ra đi tìm đạo để cứu chúng sanh đang chịu trầm luân thống khổ trong biển sinh tử.</p>
<p>Đạo Phật có tư tưởng xuất thế nhưng chủ trương nhập thế để cứu khổ độ sanh. Ngày nay, Liên Hợp Quốc đã công nhận hình ảnh Ngài là biểu tượng của hoà bình thế giới. Ngài sáng lập đạo Phật, đạo của hoà bình, hợp tác, hữu nghị. Đạo Phật chủ trương hoà bình, bảo vệ sự sống, đem đến an lạc và hạnh phúc cho nhân loại. Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, đạo Phật chưa từng gây ra cuộc Thánh chiến đẫm máu nào cả. Đạo Phật được công nhận là Tôn giáo Văn hoá Thế giới. Ngày lễ Phật đản của cả thế giới được Liên Hợp Quốc bảo trợ và gọi là Đại lễ Vesak. Đức Phật, giáo pháp của Ngài, Tăng đoàn hàng sứ giả của Như Lai nối truyền mạng mạch phật pháp để thông điệp từ bi cứu khổ chuyển hoá nhân sinh. Pháp là đuốc soi tỏ đường trong đêm trường vô minh tăm tối giúp chúng sanh thoát khỏi mê mờ, trở về sống an vui, hạnh phúc, giác ngộ và giải thoát.</p>
<p>Đức Phật là Bậc Giác ngộ, đạo Phật là đạo giác ngộ, phật tử là con của Bậc Giác ngộ. Ngài truyền giáo pháp thậm thâm vi diệu, còn hàng hàng lớp lớp sứ giả Như Lai thắp lên ngọn đuốc trí tuệ để soi đường cho chúng sanh đi. Bởi thế, dân gian thường nói: “<em>Tiên bái Trụ trì, hậu bái Thích Ca</em>”. Chính Chư Tăng đã thay Phật nói pháp và truyền giới cho phật tử. Chư Tăng là chân lý sống động trong ba ngôi quý báu giúp phật tử hiểu giáo lý một cách thấu đáo, rõ ràng. Chư Tăng có thể xương minh phật pháp, làm cho phật pháp quang huy, đó là lý do vì sao phật tử phải quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Trong kinh Pháp Cú có câu:</p>
<p>“ <em>Vui thay Phật ra đời<br />
Vui thay Pháp được giảng<br />
Vui  thay Tăng hoà hợp<br />
Hoà hợp tu vui thay.</em>”</p>
<p>Đức Phật thị hiện rồi nhập Niết Bàn, để lại giáo pháp thậm thâm vi diệu. Đức Phật nhập diệt nhưng ánh sáng trí tuệ của Ngài còn tồn tại. Nếu không có hàng sứ giả Như Lai tuyên dương chánh pháp thì dần dần Phật pháp sẽ bị mai một. Chư Tăng thay Phật truyền pháp cũng cần có nếp sống thanh tịnh, là tấm gương sáng trong đời sống tâm linh. Người phật tử trong lòng vui vẻ phấn chấn khi nghe pháp thì mới có được pháp lạc mà tiếp thu những tinh hoa tư tưởng của đạo Phật. Cho dù là người xuất gia hay tại gia cũng nên hoà hợp cộng tu, phật tử tại gia phải giữ gìn năm giới cấm để trở thành người phật tử chân chánh.</p>
<p>Vào ngày 15/12/1999 Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết chính thức công nhận ngày Đại lễ Vesak, còn gọi là Đại lễ Tam hợp là: ngày Phật đản sanh, ngày Phật thành đạo và ngày Phật nhập Niết bàn, cùng vào ngày trăng tròn tháng Vesak theo lịch Ấn Độ cổ nhằm tôn vinh giá trị đạo đức văn hoá, tư tưởng hoà bình của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đây là ngày Lễ hội Văn hoá Tôn giáo Quốc tế. Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc tổ chức tại Srilanka đã xác nhận Phật giáo là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất suốt hơn hai mươi lăm thế kỷ đã và đang tiếp tục đóng góp rất hữu hiệu cho đạo đức tâm linh của nhân loại. Đạo Phật đã đáp ứng cho nhân loại xã hội ngày nay các giá trị an lạc, hoà bình, hữu nghị và hợp tác. Người đệ tử Phật đã thọ những giới cấm, được nuôi dưỡng trong truyền thống tâm linh của Phật giáo cần tránh xa mọi tội lỗi, phân biệt rõ thiện ác, tội phước.</p>
<p>Người phật tử chân chánh cần sống trong tinh thần của Bát chánh đạo là: Chánh kiến, thấy biết chơn chánh; Chánh tư duy, suy nghĩ chơn chánh; Chánh ngữ, nói năng chơn chánh; Chánh nghiệp, hành động chơn chánh; Chánh mạng, mưu sinh chơn chánh; Chánh tinh tấn, siêng năng chơn chánh; Chánh niệm, nghĩ nhớ chơn chánh và Chánh định, tập trung tư tưởng chơn chánh, nhằm mục đích xây dựng đời sống an lạc giải thoát. Thông thường, những gia đình thuần hoá sống trong nền luân lý đạo đức của Phật giáo thường là những gia đình thuần lương, đời sống ổn định, hạnh phúc an vui.</p>
<p>Đức Phật thị hiện với nhân dáng hoàn mỹ và toàn bích, với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp không ai có thể sánh bằng. Nhờ có trí tuệ siêu việt, lòng từ bi nhân ái vượt thường, đời sống tu tập chuyển hoá, Ngài kết tinh bằng những đức tính cao cả tôn quý nhất cả về thể chất lẫn tâm hồn nên chúng sanh xưng dương tán thán Ngài.</p>
<p>Đức Phật tuyên thuyết lần đầu tiên tại Lộc Giả Uyển về chân lý của sự thật gọi là Tứ diệu đế, tức bốn sự thật nhiệm mầu, không phải là quy ước pháp của thế gian mà là sự thật của cuộc đời bao gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.</p>
<p>Khổ đế là chân lý sự thật đúng đắn về sự khổ ở thế gian. Con người sinh ra phải chịu cảnh sinh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não mà chúng ta thường nghe là Tam khổ, Bát khổ. Tam khổ là Khổ khổ, hoại khổ và hành khổ. Bát khổ là sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hoại khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Con người chịu khổ trùng trùng điệp điệp với biết bao điều bất toàn, bất như ý trong cuộc sống ở nơi thân này không thể kể sao cho xiết. Thân bất tịnh là khổ, vô thường là khổ, thân giả hợp là khổ.  Nhưng Đức Phật nói khổ để chúng sanh nhận diện sự thật rồi tìm phương thoát khổ, vì khổ làm thân tâm con người bức bách, ray rứt, thúc giục họ nhìn nhận bản chất sâu xa của cuộc sống.</p>
<p>Tập đế là chân lý về nguyên nhân của sự khổ. Mọi thống khổ con người đang phải gánh chịu nơi thân này, cuộc đời này chính là tham, sân, si. Tham chính là nguyên nhân của đau khổ, làm cho con người thiếu sáng suốt. Tham là nguyên động lực làm xoay chuyển bánh xe luân hồi. Người xưa thường nói tham thì thâm vì tham lam chi phối con người thấy lợi trước mắt mà không thấy hại sau lưng, tham làm cho con người đoạn tình, đoạn nghĩa, không còn nhìn xa trông rộng để nhận thức toàn diện vấn đề.</p>
<p>Người xưa có câu: Một đốm lửa sân có thể thiêu rụi cả rừng công đức. Sân cũng là nguyên động lực vận chuyển bánh xe luân hồi, phần nhiều là tạo ra ác nghiệp trùng trùng. Si là trạng thái tối tăm trong tâm hồn, là nguyên nhân tạo ra nhiều tội lỗi, là nhân của loài súc sanh không biết tôn tri trật tự, phải trái, tốt xấu, đúng sai, không phân biệt được chơn ngụy chánh tà. Chính si mê sản sinh ra tham và sân. Nếu con người hết si mê thì được sáng suốt, vì thế chúng sanh cần tu tập để đoạn si mê. Đức Phật đã nói Tập đế là nguyên nhân của mọi khổ đau, nếu chúng sanh tu tập và đoạn trừ được tham sân si thì trong lòng bình an vui vẻ, ra khỏi trần lao sinh tử. Chư Phật, chư Bồ tát, các bậc Thánh Hiền đoạn trừ tham sân si và đã trở thành vô sanh bất tử. Các Ngài đem ánh sáng quang minh soi rọi vào cuộc đời tăm tối để vực chúng sanh ra khỏi biển khổ sông mê. Chính vì vậy, Đức Phật đã nói: Tập đế là sự thật, là nguyên động lực tạo nên tất cả nỗi khổ trong cuộc đời này.</p>
<p>Diệt đế là gì? Diệt đế là chân lý về sự diệt khổ. Tức là Niết bàn. Chỉ có những bậc Giác ngộ giải thoát mới thấu hiểu được trạng thái của Diệt đế là trở về với chơn tâm, phật tánh của chính mình, tu tập không còn tham sân si phiền não, không còn bị vô minh nghiệp chướng chi phối, là sự thật của xuất thế gian mà những người còn tham sân si không thể nào hiểu thấu.</p>
<p>Đạo đế là nhân xuất thế gian, là những pháp tu gồm có Tứ Niệm xứ, Tứ Chánh cần, Tứ Như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ đề phần và Bát Chánh đạo phần. Để đạt được Diệt đế Niết Bàn cần tu chuyển hoá ba nghiệp, tu tập giới định tuệ để gột rửa tham sân si, vô minh nghiệp chướng trong lòng.</p>
<p>Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển vận bánh xe Chánh pháp tại Lộc Giả Uyển độ năm anh em Kiều Trần Như đều đắc Thánh quả.  Đức Phật đã thị hiện trên cõi đời này lần đầu tiên thuyết minh về Tứ  đế. Cuối đời Ngài nói kinh Pháp Hoa tại núi Linh Thứu triển khai vi diệu pháp đến đỉnh điểm mà trong kinh Pháp Hoa nói là Đại sự nhân duyên Đức Phật xuất hiện trên thế gian để khai thị chúng sanh ngộ nhập phật tri kiến. Ngài nói vô lượng pháp môn tu nhưng cuối cùng là để chúng sanh trở về lại với phật tri kiến của chính mình. Ngài xuất hiện để nói lại nguyên uỷ gốc gác của chúng sanh vốn là Phật, nhưng đã lãng quên rồi tạo nghiệp trầm luân khổ ải trong ba nẻo sáu đường, đó là bi kịch của thân phận chúng sanh.</p>
<p>Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện đản sanh, xuất gia, thành đạo, hoằng pháp rồi nhập Niết bàn. Đại sự nhân duyên Ngài xuất hiện trên cuộc đời mãi đến giờ hơn 26 thế kỷ. Nhân ngày khánh đản, người học Phật hãy làm sống dậy những giá trị cao quý của đạo Phật, bước đi trên lộ trình giác ngộ, tìm chân lý giải thoát, để mỗi mùa khánh đản trở về thừa hưởng pháp âm vi diệu, sưởi ấm bởi lòng từ bi vô hạn của Ngài mà chào đón một mùa khánh đản tràn đầy ý nghĩa.
</p></div>
<div style="text-align: right;">                                                    <span style="font-size: 12px;"><span style="color: #008000;"><strong> Thích Thông Huệ - Thiền Tự Trúc Lâm Viên Giác<br />
Mùa Phật đản – PL. 2559</strong></span></span></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://denchua.nhadatso.com/chao-mung-ngai-duc-phat-nhap-the-do-sanh.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Quan niệm Tu Phật trong cuộc sống hằng ngày</title>
		<link>http://denchua.nhadatso.com/quan-niem-tu-phat-trong-cuoc-song-hang-ngay.html</link>
		<comments>http://denchua.nhadatso.com/quan-niem-tu-phat-trong-cuoc-song-hang-ngay.html#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 21 Jun 2015 08:36:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phật Pháp]]></category>
		<category><![CDATA[hoc phat]]></category>
		<category><![CDATA[phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[phat hoc]]></category>
		<category><![CDATA[phat phap]]></category>
		<category><![CDATA[thien phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[tin tuc phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[vuon hoa phat giao]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://denchua.nhadatso.com/?p=270</guid>
		<description><![CDATA[Nhiều người có quan niệm sai lầm rằng đời sống tinh thần, đời sống tôn giáo là ở một nơi nào đó trên trời &#8211; một thực tại thanh tao hoặc huyền bí &#8211; và rằng cuộc sống hàng ngày của chúng ta quá nhàm chán và không tốt đẹp. Thường thì mọi người nghĩ]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h3 class="tt-detail">Nhiều người có quan niệm sai lầm rằng đời sống tinh thần, đời sống tôn giáo là ở một nơi nào đó trên trời &#8211; một thực tại thanh tao hoặc huyền bí &#8211; và rằng cuộc sống hàng ngày của chúng ta quá nhàm chán và không tốt đẹp.</h3>
<div class="f-detail">
<div style="text-align: center;"><a href="/images/post/2015/06/21/20//tu-phat.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-281" src="/images/post/2015/06/21/20//tu-phat.jpg" alt="tu-phat" width="480" height="325" /></a></div>
<p>Thường thì mọi người nghĩ rằng để trở thành một người tâm linh, chúng ta phải phớt lờ hoặc xao lãng cuộc sống hàng ngày của chúng ta để đi vào cảnh giới khác, đặc biệt. Trên thực tế, tôi nghĩ rằng là một người tâm linh có nghĩa là trở thành một con người thực sự.</p>
<p>Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói: &#8220;<em>Không phải là quá quan trọng cho dù bạn đi trên mặt nước hoặc đi trong không gian. Phép lạ thực sự là bước đi trên mặt đất</em>&#8220;. Đúng vậy. Nói cách khác, trở thành một con người tử tế có lẽ là phép lạ lớn nhất mà chúng ta có thể thực hiện.</p>
<p>Một lần tôi nói chuyện với một nhóm trẻ em tại một trường học Hồng Kông. Một em hỏi: &#8220;<em>Cô có thể bẻ cong chiếc thìa bằng tâm thức của mình?</em>&#8221; Một đứa hỏi: &#8220;<em>Đã bao giờ Chúa nói chuyện với cô chưa?</em>&#8220;. Chúng đã rất thất vọng khi tôi nói &#8220;<em>Không</em>&#8220;. Tôi giải thích rằng đối với tôi phép lạ thực sự là trở thành một con người tốt bụng.</p>
<p>Nếu bạn có sức mạnh tâm linh nhưng lại thiếu một trái tim nhân hậu, thì sức mạnh đó không sử dụng được. Trong thực tế, chúng thậm chí có thể là bất lợi: mọi người có thể rất khó chịu nếu họ nhận ra rằng tất cả những chiếc thìa của họ đều đã bị uốn cong!</p>
<p><span style="color: #ff0000;"><strong>Khi thức dậy</strong></span></p>
<p>Làm thế nào để chúng ta tu tập một trái tim nhân hậu? Hãy nói với chính mình rằng mình nên tốt đẹp là không đủ, bởi vì nói với chính mình điều mình nên hay không nên, cảm nhận hay thực hiện không làm cho chúng ta trở nên như vậy.</p>
<p>Việc lắp đầy bản thân với &#8220;những cái nên&#8221; thường chỉ làm cho chúng ta cảm thấy tội lỗi vì chúng ta không bao giờ là những gì chúng ta nghĩ rằng chúng ta nên. Chúng ta cần phải biết làm thế nào để thực sự biến đổi tâm trí của mình. Nói cách khác, chúng ta phải nhận ra những bất lợi của việc tự cho mình là trung tâm.</p>
<p>Chúng ta phải thực sự muốn phát triển một trái tim nhân hậu, không chỉ giữ suy nghĩ rằng chúng ta nên phát triển một trái tim nhân hậu. Vào buổi sáng, khi lần đầu tiên thức dậy, trước khi ra khỏi giường, trước khi nghĩ về những gì chúng ta sẽ ăn cho bữa ăn sáng hoặc một người khó ưa mà chúng ta sẽ gặp trong văn phòng.</p>
<p>Chúng ta có thể bắt đầu một ngày bằng cách nghĩ: &#8220;<em>Hôm nay càng nhiều càng tốt, tôi sẽ không làm hại ai. Hôm nay nhiều như có thể, tôi sẽ cố gắng phục vụ và mang lại lợi ích cho người khác. Hôm nay tôi muốn làm tất cả những hành động để tất cả chúng sinh có thể đạt được trong dài hạn niềm vui của sự giác ngộ</em>&#8220;.</p>
<p>Thiết lập một động cơ tích cực thành việc đầu tiên vào buổi sáng rất có lợi. Khi trước tiên thức dậy, tâm trí của chúng ta rất tinh tế và nhạy cảm. Nếu chúng ta thiết lập một động cơ tích cực mạnh mẽ vào thời điểm này, nó sẽ ở lại với chúng ta và ảnh hưởng đến chúng ta trong suốt cả ngày.</p>
<p>Sau khi tạo ra động lực tích cực, chúng ta ra khỏi giường, rửa mặt, có thể uống một tách trà, và sau đó ngồi thiền hay trì tụng. Bằng cách bắt đầu một ngày theo cách này, chúng ta sẽ tiếp xúc được và trở thành người bạn của chính chúng ta bằng cách trân trọng và tăng cường phẩm chất tốt đẹp của chúng ta.</p>
<p><strong><span style="color: #ff0000;">Tranh thủ thời gian để thiền định mỗi ngày</span></strong></p>
<p>Đôi khi rất khó tìm ra thời gian để ngồi thiền mỗi ngày. Nhưng chúng ta luôn có thời gian để xem tivi. Chúng ta luôn có thời gian để đi mua sắm. Chúng ta luôn có thời gian để thưởng thức một món ăn trong tủ lạnh. Tại sao trong 24 giờ lại không có thời gian để hành thiền?</p>
<p>Khi chúng ta hiểu được giá trị và hiệu quả của thực hành tâm linh, nó sẽ trở thành một ưu tiên cao trong cuộc sống của chúng ta, và khi một cái gì đó rất là quan trọng, chúng ta sẽ tìm thấy thời gian cho nó. Bằng cách này, hãy cố gắng thiết lập việc thực hành thiền định hàng ngày khoảng 15 hoặc 30 phút vào buổi sáng.</p>
<p>Để làm điều đó, chúng ta có thể sẽ phải trải nghiệm những &#8220;<em>hy sinh không thể tin nổi</em>&#8221; việc từ bỏ 15 hoặc 30 phút xem tivi vào buổi tối trước đó do đó chúng ta có thể đi ngủ sớm hơn một chút. Trong cùng một cách mà chúng ta luôn luôn tìm thấy thời gian để ăn vì thức ăn nuôi dưỡng cơ thể của chúng ta, chúng ta sẽ tìm thấy thời gian để ngồi thiền và cầu nguyện bởi vì nó nuôi dưỡng tinh thần của chúng ta.</p>
<p>Khi chúng ta tôn trọng chính mình về mặt tinh thần, chúng ta sẽ tôn trọng chính mình về mặt con người. Việc nuôi dưỡng bản thân theo cách đó sẽ trở thành một ưu tiên rất quan trọng.</p>
<p><span style="color: #ff0000;"><strong>Thiền buổi sáng</strong></span></p>
<p>Trong buổi sáng, sẽ rất tốt để bắt đầu buổi thiền định của bạn với một vài cầu nguyện và tu dưỡng ý định vị tha để làm lợi ích cho người khác bằng việc hành thiền. Sau đó hãy thực hành thiền thở trong một thời gian.</p>
<p>Hãy ngồi bình tĩnh, trải nghiệm hơi thở của bạn đi vào và ra, và nhận thức được hơi thở đang nuôi dưỡng bạn. Chỉ cần được ở thời điểm hiện tại với hơi thở, và hãy buông bỏ tất cả những suy nghĩ lan man và lo lắng. Bạn có thể muốn niệm thần chú của Đức Quan Âm hay của Đức Phật.</p>
<p>Thật rất hữu ích khi nhớ lại phẩm chất của Đức Phật vào lúc này vì điều đó truyền cảm hứng cho chúng ta noi theo sự tử tế, trí tuệ và kỹ năng của Đức Phật trong các hoạt động hàng ngày của chúng ta. Hoặc bạn có thể thực hành thiền phân tích, suy nghĩ về ý nghĩa của một lời dạy cụ thể mà Đức Phật đã dạy và áp dụng nó vào cuộc sống của riêng bạn.</p>
<div style="text-align: right;"><span style="font-size: 12px;"><strong><span style="color: #008000;">Thubten Chodron &#8211; </span><span style="text-decoration: underline;"><span style="color: #008000;">Vườn hoa Phật giáo</span></span><br />
<span style="color: #008000;">Văn Công Hưng dịch</span></strong></span></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://denchua.nhadatso.com/quan-niem-tu-phat-trong-cuoc-song-hang-ngay.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
